Thắp Sáng Ðường Giác Ngộ (Đalai Lama XIV)

  1. TỔNG QUAN
  2. ÐẶC ÐIỂM PHÁP TU LAM-RIM
  3. NƯƠNG DỰA ĐẠO SƯ
  4. KHỞI TÂM TU THEO PHẬT PHÁP.
  5. QUI Y, NGHIỆP, GIỚI
  6. TÌM ĐƯỜNG VƯỢT THOÁT LUÂN HỒI 
  7. PHÁT TÂM BỒ ÐỀ
  8. NGHI THỨC PHÁT TÂM BỒ ÐỀ
  9. HÀNH TRẠNG BỒ TÁT
  10. HẠNH TUỆ BA LA MẬT – HỒI HƯỚNG CUỐI SÁCH

7. PHÁT TÂM BỒ ÐỀ

Ðèn Soi Ðường Giác Ngộ: chỉnh cú 5

Lại có những người / đã từng phải chịu / rất nhiều khổ não / nên mang tâm nguyện / tận diệt khổ đau / cho  mình, cho người. / Những người như vậy / là bậc thượng căn.

Chỉnh cú này nói về loại người tu nhờ hiểu được sâu xa về nguyên nhân của khổ đau của chính mình mà phát khởi lòng lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh. Những người này hiểu rằng khổ đau đến từ tâm lý phiền não, bắt rễ từ vô minh căn bản, và cũng biết rằng hễ mình còn nằm dưới tầm tác động của phiền não và vô minh, thì khổ đau sẽ vẫn trùng điệp không bao giờ dứt, như những đợt sóng liên tục trên mặt hồ.

Một khi hiểu được chân tướng cua khổ đau trong đời sống của chính mình, quí vị có thể suy rộng ra để thấy rằng tất cả mọi chúng sinh không ai không bị phiền não trói buộc. Tư duy quán niệm về khổ đau của người khác, từ từ sẽ thấy rằng mình muốn thoát khổ thì kẻ khác cũng vậy. Nhờ vậy mà bắt đầu cấy dưỡng lòng. Khi khát khao cho mọi chúng sinh đều được an vui hạnh phúc, thì đó là khởi điểm của lòng từ.

Nhờ lòng đại bi là tâm nguyện mong mỏi chúng sinh thoát khổ đau, và lòng từ là tâm nguyện muốn chúng sinh được hạnh phúc, mà nảy sinh tinh thần trách nhiệm cao độ. Lòng đại bi không ngừng lại ở lời nguyện suông, mà dẫn tới chí nguyện: “tôi, chính tôi, sẽ giải thoát chúng sinh ra khỏi khổ đau.” Dần dần tinh thần trách nhiệm phi thường này sẽ dẫn tới tâm bồ đề, là tâm nguyện vị tha của người vì lợi ích của toàn thể chúng sinh mà nguyện sẽ thành Phật. Vậy tâm bồ đề bao gồm hai chí nguyện, một là vì chúng sinh, và hai là thành Phật đạo.

Tâm nguyện trong sáng muốn thành Phật vì lợi ích của toàn thể chúng sinh xảy ra khi có đủ hai chí nguyện này. Như vậy gọi thành tựu tâm bồ đề. Ngang điểm này, người tu trở thành người thượng căn, và tất cả mọi hành động, mọi công phu hành trì khởi từ tâm bồ đề đều trở thành hành động công phu đại thừa.

Chứng Đạo Ca: câu 14

Cốt tủy đại thừa / là làm sao cho / tâm nguyện bồ đề / luôn luôn tăng trưởng./ Đây là căn bản / và là nền tảng / của khắp mười phương / hành trạng giác ngộ, / trùng trùng vời vợi / như sóng đại dương. / Tựa như thuốc tiên / hóa sắc thành vàng, / tâm bồ đề cũng / có được khả năng / khiến mọi hành động / biến thành hai bồ / tư lương phước trí, / tích lũy kho tàng / công đức đồ sộ / nhờ vào vô lượng / tánh đức bồ đề. / Thầy là hành giả / đã tu như vậy. / Các con ai người / đang cầu giải thoát / hãy tự thuần dưỡng / đúng theo lối này.

Câu thứ nhất nói rằng tâm bồ đề là cốt tủy của Phật giáo Ðại thừa. Tâm bồ đề là tâm nguyện can đảm phi thường, và cũng là nền tảng của bồ tát đạo. Chữ “nền tảng” và “căn bản” trong câu tiếp theo có nghĩa là ngay lúc phát khởi được tâm bồ đề, quí vị trở thành Phật tử Ðại thừa, và bước vào đường tu đại giác ngộ, nhưng hễ tâm bồ đề bị thoái chuyển là lập tức rời bồ tát đạo, không còn là bồ tát. Thiếu tâm bồ đề tâm thì dù tu các pháp môn khác có thành tựu tiến bộ đến đâu đi nữa – dù có trực tiếp chứng tánh không, hay đạt tới niết bàn – bất cứ là làm việc gì cũng không phải là việc làm của bồ tát và không thể là nhân dẫn tới vô thượng bồ đề.

Câu thứ ba nhắc đến loại thuốc thần hóa sắc thành vàng. Nói như vậy có nghĩa là với tâm bồ đề thì dù việc làm nhỏ nhoi đến đâu chăng nữa, như là thả một mẩu đồ ăn cho kiến, cũng vẫn tạo nhân duyên để thành tựu vô thượng bồ đề. Tiếp theo luận văn nhắc đến “kho tàng công đức đồ sộ”, cho thấy tầm vóc vô hạn của tâm bồ đề. Tâm bồ đề là tâm hướng về an nguy của vô lượng chúng sinh. Tâm này cho phép chúng ta quyết tâm chịu khó nhọc hàng vô lượng đại kiếp để mang lại bình an lợi lạc cho tất cả chúng sinh, và thúc đẩy chúng ta dấn thân vào vô lượng thiện phương tiện để giúp chúng sinh.

Vì vậy bồ tát còn được gọi là “đấng đại hùng”, hay “đấng ??? . Họ là những người có lòng vị tha vô tận và đủ trí tuệ để hiểu rằng cứ dốc lòng vì lợi ích của tất cả thì tự nhiên mọi nhu cầu lợi lạc cá nhân sẽ được chu toàn đầy đủ.

Họ cũng là những bậc đại hùng, dành trọn đời mình để đạt giác ngộ chiến thắng bốn sức mạnh chướng ngại. Chỉnh cú kết thúc với câu: Biết điều này, bồ tát lấy tâm bồ đề làm công phu tu hành nghiêm mật nhất. Thầy là hành giả, đã tu như vậy. Các con ai người cầu giải thoát, hãy nên tự thuần dưỡng theo lối này.”

Ðèn Soi Ðường Giác Ngộ: chỉnh cú  6

Vì bậc thượng căn / hướng về thượng Pháp / nên thầy nói về / phương tiện tuyệt hảo / do các đạo sư / ân cần truyền dạy.

Chỉnh cú này nói cho người đã có chút kinh nghiệm về từ bi và tâm bồ đề, muốn chính thức thọ giới để có thể vững vàng phát tâm bồ đề. Chỉnh cú thứ bảy cho đến chỉnh cú thứ 18 giải thích về nghi lễ phát tâm bồ đề.

Ðèn Soi Ðường Giác Ngộ: chỉnh cú 7

Đối trước tranh vẽ / hay trước hình tượng / của đấng vô thượng / chánh đẳng chánh giác. / Đối trước bảo tháp / và trước kinh điển / Các con hãy tùy / khả năng bày biện / hương hoa cúng dường.

Chỉnh cú 8

Thành tâm hiến cúng / thất chi Phổ hiền / theo hạnh nguyện vương / với chí kiên quyết / sẽ không thối chuyển / nếu chưa đến được / bến bờ nẻo giác.

Chỉnh cú 9

Lòng tin kiên định / đặt nơi Tam Bảo, / hãy quì một chân / và chắp hai tay / đ ọc câu phát nguyện / qui y ba lần.

Chỉnh cú 10

Rồi hãy để cho / tâm Từ rộng mở / yêu thương hết thảy / các loài chúng sinh. / Nhìn rõ chúng sinh / vướng trong khổ não / khổ trong ác đạo / khổ vì sinh tử. / Hãy nhìn cùng khắp / đừng sót một ai.

Chỉnh cú 11

Vì mong chúng sinh / thoát mọi nạn khổ / thoát cả  nguyên nhân / tạo nên nỗi khổ / nên phải phát khởi / đại nguyện thành tựu / vô thượng bồ đề.

Chỉnh cú 12

Phát tâm như vậy / mang ý nghĩa gì / đều đã được đức / Di Lạc từ tôn / giải thích rõ trong / Kinh Thân Tỏa Rộng

Chỉnh cú 13

Nhờ đọc kinh này, / hay nhờ nghe giảng, / mà hiểu tường tận / lợi ích vô lượng / phát tâm bồ đề. / Hiểu rồi phải gắng / liên tục phát tâm, / cho tâm bồ đề / ngày thêm tỏa rạng.

Chỉnh cú 14

Trong bộ Vi-ra / đạt-đa vấn kinh / có giải thích về / công đức Bồ đề. / Nay thầy nói lại / ba câu chỉnh cú / tóm lược ý kinh.

Chỉnh cú 15

Công đức bồ đề / nếu như có thân, / thân ấy nhất định / đầy ắp không gian, / và còn tỏa rộng / quá hơn vậy nữa.

Chỉnh cú 16

Ai mang châu báu / lấp đầy cõi Phật / nhiều bằng số cát / có trong sông Hằng / để mà hiến cúng / chư Phật Thế tôn,

Chỉnh cú 17

Thì công đức ấy / vẫn không thể sánh / với đôi tay chắp / tâm hướng bồ đề. / Vì công đức này / bao la vô tận.

Chỉnh cú 18

Tâm nguyện bồ đề / một khi đã phát, phải hằng ghi nhớ / phát triển không ngừng; / đời này kiếp sau / không bao giờ xa / giới hạnh bồ tát.

GIÁ TRỊ TÂM BỒ ĐỀ

Lòng vị tha toàn hảo nhất, rốt ráo nhất, là tâm bồ đề kết hợp với trí tuệ. Tâm bồ đề là nỗi khát khao muốn thành Phật để có thể mang lợi lạc về cho tất cả chúng sinh. Ðây chính là cốt tủy, là giọt tinh túy cô đọng nhất của tất cả mọi giáo pháp Phật dạy, vì Phật chỉ có một mục tiêu duy nhất là dẫn dắt tất cả chúng sinh đến với giác ngộ viên mãn, với trí toàn giác. Tâm bồ đề là yếu tố quyết định một đường tu có phải là đường tu giác ngộ hay không, vì vậy tâm bồ đề thật sự là trái tim tinh túy của tất cả mọi giáo pháp Phật dạy. Vậy tất cả 84 ngàn pháp môn Phật dạy đều có thể được xem là công phu sơ khởi để luyện tâm bồ đề, còn công phu chính là giữ giới bồ tát và thực hành bồ tát hạnh, cần phải theo sau khi nhận giới bồ tát.

Một khi hiểu được điều này, chúng ta có thể thấy rõ kiếp người quí giá như thế nào. Kiếp người cho chúng ta cơ hội có thể chiêm nghiệm và thể hiện mọi tánh đức bao la vô tận của tâm bồ đề. Tương tự như vậy, khi chiêm nghiệm về lòng từ bi của vị thầy đã đưa chúng ta vào tâm bồ đề, giải thích về ý nghĩa và lợi ích, chúng ta sẽ có được tấm lòng biết ơn sâu xa, thương yêu kính ngưỡng vô tận đối với thầy mình.

Tâm bồ đề không chỉ quan trọng ở những bước đầu trên đường tu giác ngộ, mà cả suốt đường tu, cả khi thành đạo, tâm bồ đề vẫn luôn nằm ở vị trí trọng yếu. Ngài Tịch thiên có nói, ngay khi chưa thật sự dấn thân vào đường tu, chưa phát được tâm bồ đề, dù chỉ có được đôi chút hiểu biết trí thức về tâm bồ đề, có được chút lòng ngưỡng mộ đối với tâm này, chỉ bấy nhiêu cũng đã được nhiều lợi ích trước mắt. Cho dù phiền não tác động đến đâu chăng nữa, hễ có khả năng hiểu được giá trị của tâm bồ đề là có thể tức thì hưởng đuợc lợi lạc. Tuy vậy niềm vui an lạc bao giờ cũng đến chung với nỗi buồn cho số phận của chúng sinh.

Trên đường tu, hành trì bồ đề tâm giúp chúng ta tích lũy nhiều công đức. Ðồng thời cũng là nền tảng giúp tất cả những công phu khác được thành tựu mau chóng. Phát tâm bồ đề là công phu bao gồm tất cả, giúp chúng ta mau chóng thanh tịnh nghiệp chướng. Sau rốt, khi đã thành Phật, cũng chính tâm bồ đề sẽ giữ gìn liên tục tất cả mọi hành động giác ngộ hướng về lợi ích của chúng sinh. Suy nghĩ như vậy để thật sự hiểu được tầm vóc quan trọng của tâm bồ đề, luôn mang lợi lạc về cho chúng ta trên mọi bước đường tu, và rồi sẽ có lúc chúng ta hiểu được rõ ràng vì sao tâm bồ đề lại được ví với viên ngọc như ý.

Kim cang thừa có những phương pháp rất đặc biệt để thành tựu hai thân Phật nhiệm màu, là sắc thân (rupakaya) và pháp thân (dharmakaya). Sắc thân là thân có hình tướng của Phật[xxxviii], còn pháp thân là thân Phật trong cảnh giới thực tại[xxxix]. Phương pháp chính để thành tựu sắc thân là phương tiện tuyệt hảo, là phần phương tiện của đường tu. Nội dung chính của phương tiện tuyệt hảo là tâm nguyện vị tha muốn thành Phật vì lợi ích chúng sinh, đặc biệt là tâm nguyện muốn thành tựu sắc thân để có thể cứu độ giúp đỡ chúng sinh. Thiếu tâm nguyện này, chúng ta sẽ không thể nào hiểu được chiều sâu của pháp tu trong Kim cang thừa, giúp người tu gom góm nhân duyên thành tựu sắc thân Phật.

Ðồng thời, tuệ giác chứng tánh không nếu thiếu tâm bồ đề sẽ không cho phép chúng ta hội đủ nhân duyên thành tựu pháp thân. Vì vậy trọn vẹn đường tu Kim cang phải được xem là những phương pháp tu lần lượt để phát huy tâm bồ đề. Thiếu tâm bồ đề, Kim cang thừa sẽ hoàn toàn vô nghĩa.

Bỏ qua một bên vấn đề Phật giáo với lòng tin tôn giáo, vẫn có thể nhìn vào đời sống hàng ngày để thấy rằng càng giàu lòng vị tha, càng biết quan tâm đến người khác, chính mình sẽ càng nhận được nhiều lợi lạc. Không những giấc ngủ yên hơn, mà hành động việc làm nào cũng đều sẽ tích cực hơn, xây dựng và tốt lành hơn, cho dù có tin vào nghiệp quả hay không.

Ngược lại, nếu tâm đầy ác ý, ích kỷ, không biết nghĩ cho người khác, không những ngay trước mắt phải chịu nhiều xáo trộn trong tình cảm ý nghĩ, mà bất kể hành động việc làm nào cũng đều tiêu cực, phá hoại và đầy tính bất thiện. Vì vậy càng biết thương yêu chăm sóc người khác thì lại càng hưởng được nhiều bình an vui vẻ.

Hiện tượng này không chỉ xảy ra cho thế giới con người. Tình thương yêu chăm sóc cũng đóng vai trò rất quan trọng trong thế giới loài thú. Con thú nào ác hiểm thường không được các đoàn thú chấp nhận, còn con thú nào dễ chịu hơn thì dễ được chấp nhận hơn.

Cả trong luân hồi, hạnh phúc và niềm vui cũng đều đến từ lòng thương yêu biết quan tâm đến người khác. Những đức tính này mang lại lợi ích vô tận, ngay cả trong lãnh vực của đời sống hàng ngày. Vì vậy rất nên mang cùng cảm xúc với ngài Tịnh thiên, như ngài nói trong Hành Bồ Tát Hạnh, rằng phải nguyện nâng đỡ chúng sinh, phục vụ chúng sinh, như đất, như núi, như cây. Khi nghĩ về tâm địa vị tha ở mức độ sâu xa như vậy, sẽ thấy lòng vị kỷ, lo lắng cho cá nhân chính mình, là điều hoàn toàn  vô nghĩa, khi ấy chúng ta sẽ có thể hiểu được ý thật của ngài Tịch thiên khi viết câu kệ tuyệt vời cuối cuốn Hành Bồ Tát Hạnh, tôi đã trích rồi, ở đây xin nhắc lại:

Không gian chưa cùng
chúng sinh chưa tận
nguyện con còn vẫn
ở lại chốn này
quét khổ thế gian

Khi mang hết thân mạng, việc làm, lời nói, ý nghĩa, nhất nhất đều hướng về mục tiêu duy nhất là mang lợi lạc cho người khác, lúc ấy có thể nói rằng hạnh phúc chân chính đã bắt đầu khởi sinh, và quí vị bắt đầu thật sự bước lên con đường tu giác ngộ.

Khi ấy quí vị cũng sẽ có thể hiểu được ngài A-ti-sa Dipamkara khi ngài nói rằng ta không nên thoái chí cho dù phải trải qua nhiều lần vô lượng kiếp chỉ để tu phát hai loại tâm bồ đề, tâm bồ đề qui ước của lòng vị tha, và tâm bồ đề cứu cánh của trí tuệ chứng tánh không. Ý của ngài A-ti-sa là dù mất bao nhiêu thời gian để phát tâm bồ đề, chỉ cần chuyên chú nhắm tới mục tiêu này thì sẽ không bao giờ cảm thấy mất thì giờ. Tâm bồ đề là mục tiêu duy nhất đáng theo đuổi. Ngài A-ti-sa có nói, “trên đường tìm giác ngộ, ngoài tâm bồ đề ra có gì khác đáng nói nữa đâu.” Vậy bất kể phải mất bao nhiêu thời gian để phát khởi tâm bồ đề, mỗi phút giây cố gắng phát tâm bồ đề đều là những phút giây đáng giá nhất.

Khi mọi sự yên ổn thông suốt, quí vị phải tu phát tâm bồ đề, vì tu như vậy sẽ giúp quí vị khỏi sinh tâm kiêu ngạo, không khinh rẻ làm tổn hại đến người khác. Khi gặp cảnh ngang trái, khổ đau và bất hạnh, quí vị cũng nên tu phát tâm bồ đề, vì công phu tu hành này sẽ che chở cho quí vị khỏi rơi vào hố tuyệt vọng. Còn sống là còn phải tu phát tâm bồ đề, tu như vậy sẽ khiến đời sống tràn đầy ý nghĩa. Ngay cả khi chết, cũng phải tu phát tâm bồ đề, vì đây là điều duy nhất sẽ không bao giờ dối gạt bỏ rơi quí vị.

Sau khi quan sát Phật dựa trên kinh nghiệm của Phật để dạy về tâm bồ đề như thế nào, tâm bồ đề bao gồm tất cả tinh túy của lời Phật dạy như thế nào, và quí vị may mắn ra sao mới có thể gặp được giáo pháp quí giá này, quí vị phải có ý tưởng như sau: “Tôi phải dốc sức chuyên tâm phát tâm bồ đề. Là người bước theo chân Phật, việc duy nhất trước mắt phải làm, là phát tâm bồ đề”. Từ trong đáy lòng sâu thẳm phải cảm thấy cực kỳ hoan hỉ đầy đủ, trộn lẫn với cảm giác buồn lo cho nỗi khổ của người khác. Chung với những cảm xúc này, phải phát chí nguyện mãnh miệt, “tôi sẽ không bao giờ từ bỏ tâm bồ đề”. Phải có những suy nghĩ cảm xúc như vậy khi dự buổi lễ phát tâm bồ đề.

image_pdfimage_print