Lời Nguyện Đại Thủ Ấn Liễu Nghĩa (Karmapa III)

 – Mahamudra of Definitive Meaning’s Aspiration Prayer, – 
Tác giả (author): Rangjung Dorje (Karmapa III), –
Ngôn ngữ (languages): Việt, Tạng (Tib.) Tạng âm (Tib. pronunciation), Anh (English), Hoa (Chinese).

017_Vajradhara

LỜI NGUYỆN ĐẠI THỦ ẤN LIỄU NGHĨA
Đức Rangjung Dorje (Karmapa III) soạn tác

Hồng Như chuyển ngữ – bản dịch tra theo tiếng Tạng – nhuận văn tháng 08/2015

______________________________________________
Điều kiện hành trì:
Pháp phổ thông, mọi người đều có thể đọc tụng
______________________________________________

Nam mô Gu-ru!

[1] Thượng sư, bổn tôn / khắp mạn đà la;
Mười phương ba thời / Phật đà bồ tát,
Xin thương chúng con, / lắng nghe nguyện này,
Và hộ trì cho / nguyện thành sự thật.

[2] Con cùng hết thảy / chúng sinh vô biên,
Tâm, hạnh sạch trong / như đỉnh núi tuyết,
Tam chấp không nhiễm, / công đức suối tràn,
Nguyện thành biển rộng / tứ thân Thế tôn.

[3] Trước khi được vậy, / dù cần bao lâu
Đời này kiếp sau / cùng tận đời kiếp,
Nguyện chữ “ác”, “khổ” / cũng không nghe thấy,
Hưởng trọn biển rộng / công đức an vui.

[4] Đạt mọi thắng duyên,/  được tín, cần, tuệ,
Nương thiện tri thức, / thọ pháp khai thị,
Nguyện tu đúng cách, / chướng ngại đều không,
Luôn sanh mạng cao, / hành trì diệu pháp.

[5] Nghe giáo, luận lý, / thoát được trí chướng;
Tư duy pháp nghe, / phá đêm nghi hoặc;
Ánh sáng công phu / sáng soi thật tánh:
Nguyện tam huệ quang / đều luôn tăng trưởng.

[6] Nhị đế là nền, / siêu việt thường, đoạn;
Nhị lương là đạo, / siêu việt lấy, bỏ;
Nhị lợi là quả, / siêu việt tất cả / luân hồi, niết bàn:
Nguyện con gặp được / Pháp không lầm lạc.

[7] Cần tịnh tự tâm, / sáng-không hợp nhất;
Điều khiến cho tịnh / là đại thủ ấn / kim cang du già;
Làm cho tịnh đi / hết thảy cấu nhiễm / vọng tâm sinh diệt:
Nguyện nhờ như vậy / quả tịnh hiển lộ / ly cấu pháp thân.

[8] Diệt vọng về thể / là tự tại kiến;
Chuyên chú bất loạn / là trọng điểm tu;
Luyện mọi đề mục / là thù thắng hạnh:
Nguyện kiến, tu, hạnh / tự tín an nhiên.

[9] Vạn pháp đều là / tướng hiện của tâm.
Tâm vốn không tâm, / thật tánh vốn không.
Không, nên không diệt, / hiện đủ sắc tướng:
Nguyện quán tường tận, / thấy rõ điều này.

[10] Tự tướng vốn không, / lại lầm là cảnh;
Vô minh xui khiến / nhìn vào tự thức / lại thấy là tôi;
Nhị chấp chi phối, / trôi lăn luân hồi:
Nguyện đoạn gốc rễ / hư vọng vô minh.

[11] Chẳng phải là có: / vì chính Phật cũng / chưa từng thấy qua;
Cũng chẳng phải không: / vì là nền tảng / sinh tử, niết bàn;
Cũng không mâu thuẫn; / hợp nhất, trung đạo:
Nguyện ngộ được tâm / siêu việt cực đoan.

[12] Lấy gì khẳng định / rằng “chính là nó;”
Lấy gì phủ định rằng / “không phải nó;”
Pháp tánh này đây / siêu việt khái niệm, / không phải hữu vi:
Nguyện con chứng được / thắng nghĩa cứu cánh.

[13] Vì chưa chứng nên / trầm luân biển khổ;
Nếu đã chứng rồi, / Phật chẳng đâu xa.
Vạn pháp là vậy, / không gì không vậy.
Nguyện chứng pháp tánh / hàm tàng liễu tri.

[14] Tướng hiện là tâm; / không, cũng là tâm;
Chứng ngộ là tâm; / vọng, cũng tự tâm;
Sinh khởi là tâm; / hoại diệt cũng tâm:
Mê lầm về tâm, / nguyện đoạn hết thảy.

[15] Không nhiễm vì niệm / thao tác pháp thiền;
Không loạn vì khí / động việc thế gian;
Vắng bặt niệm khởi, / tự tại an trú / trong tánh tự nhiên:
Nguyện chân nghĩa tâm / luôn khéo tu tập.

[16] Cho bao sóng niệm / thô tế đều lặn;
Cho dòng sông tâm / yên lắng tự nhiên;
Thoát li cấu nhiễm / hôn trầm trạo cử:
Nguyện biển tịnh chỉ / diệu trạm vững vàng.

[17] Nhìn đi nhìn lại, / tâm không hình tướng;
Không-kiến-như-thật / hiển hiện rõ ràng;
Nghi hoặc có, không, / đoạn lìa hết thảy:
Nguyện vắng hư vọng, / chứng tự tánh tâm.

[18] Nhìn cảnh, cảnh không: / thấy cảnh là tâm;
Nhìn tâm, tâm không: / vốn không tự tánh;
Nhìn vào cả hai: / nhị chấp tự thoát:
Nguyện chứng diệu minh / chân tánh của tâm.

[19] Thoát ly động niệm / là đại thủ ấn;
Siêu việt cực đoan / là đại trung đạo;
Đủ cả, nên gọi / là đại viên mãn:
Nguyện con đoan chắc: / một trí chứng đắc, / vạn nghĩa tỏ tường.

[20] Đại lạc vô dục / không hề gián đoạn;
Diệu minh ly chướng / siêu việt phân biệt;
Hiện hữu bản nhiên / vắng bặt niệm khởi:
Nguyện cho chứng ngộ / không chút dụng công / tiếp nối không ngừng.

[21] Nguyện mọi chấp bám / cho ngộ là hay: / tự nhiên giải thoát;
Nguyện mọi vọng tưởng / cho niệm là dở: / tịnh vào tự tánh.
Tâm bình thường, chẳng / lấy – bỏ, được – mất,
Siêu việt hí lộng, / chân thật pháp tánh: / nguyện chứng điều này.

[22] Chúng sinh tự tánh / luôn là Phật tánh,
Chỉ vì không biết / mà phải trầm luân / sinh tử vô biên.
Khổ đau bức bách, / cùng cực triền miên:
Nguyện tâm-đại-bi-khôn-kham dũng phát.

[23] Đại-bi-khôn-kham / thị hiện bất tận.
Từ lòng thương này / trần trụi phơi bày / ý nghĩa tánh không.
Thắng đạo hợp nhất, / thoát lối mê lầm:
Ngày cũng như đêm / nguyện luôn tu tập.

[24] Thần nhãn, thần thông / đến từ pháp thiền;
Thanh tịnh cõi Phật; / thành thục chúng sinh;
Toàn thành đại nguyện, / đạt công hạnh Phật:
Nguyện cho chúng con / viên thành tam tịnh, / bước vào Phật quả.

[25] Nương lực từ bi / Phật đà bồ tát / ở khắp mười phương;
Và nương năng lực / công đức nơi đây,
Nguyện lời nguyện này / của con cùng với / khắp cả chúng sinh
Đều được như nguyện.

Đại Thủ Ấn Liễu Nghĩa Hướng Nguyện Tụng – do Pháp Vương Rangjung Dorje (đức Karmapa đời thứ 3) trước tác.


<< Đọc Tiếp Trang Sau >>


image_pdfimage_print