Category Archives: Luận – Chánh Văn

Ba Bài Nguyện Tiêu Tật Bệnh, Nạn Đói, Hiểm Họa Vũ Khí

Tác giả: Đại Thành Tựu Giả Thangtong Gyalpo và Jampal Khyentse Wangpo
Việt ngữ: Hồng Như Thupten Munsel

Ghi chú cách tụng:
Đọc bài Nghi Thức Trừ Bệnh Tiêu Tai đã đủ ba phần trong một bài. Gồm nhiều thứ tiếng để tiện khi hành trì chung.  Vừa đọc vừa nhìn hình đức Thangtong Gyalpo
Nếu đọc riêng lẻ, thì theo thứ tự sau đây:
1. Quy Y : 3, 7 hay 21 lần hay tùy ý
2. Niệm Lục Tự Chú OM MANI PADME HUM:  108 lần hay nhiều hơn
3. Tùy ý chọn đọc một, hai, hay cả ba Lời Nguyện của đức Thangtong Gyalpo. Vừa đọc vừa nhìn hình đức Thangtong Gyalpo
– Nếu muốn, kết thúc bằng bài Khẩn Cầu đức Thangtong Gyalpo, nếu không cứ tùy ý hồi hướng.

MỤC LỤC
- Lời Nguyện Quy Y
- Lời Nguyện Trừ Bệnh Tiêu Tai
- Lời Nguyện Tiêu Nạn Đói
- Lời Nguyện Tiêu Hiểm Họa Vũ Khí
- Khẩn Cầu Đức Thangtong Gyalpo
NGHI THỨC TRỪ BỆNH TIÊU TAI [ བོད་ཡིག། PHONETIC-ENGLISH-Francais-VIỆT-中文]

Thangtong Gyalpo, thangka from Lama Zopa Rinpoche's house

Thangtong Gyalpo (1385–1464)

LỜI NGUYỆN QUY Y

Mật thệ Quy Y trong, ngoài và kín mật của đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo.

Chúng sinh mẹ hiền / nhiều như trời rộng,
Quy y Thượng sư, là Phật tôn quí,
Quy y Tam bảo / Phật, Pháp, và Tăng,
Quy y thượng sư / bổn tôn, không hành,
Quy y tự tâm / pháp thân sáng-không

Lời nguyện này chan chứa lực gia trì của đức Quan Thế Âm, người đã truyền cho Pháp Vương Ka Nga pa, căn dặn hãy truyền lại cho Tỷ kheo Tsöndru Zangpo Thangtong Gyalpo, nói rằng nếu dạy lại cho người trong cõi thế thì sẽ giúp phá tan tật bệnh, tà ám, chướng ngại liền ngay tức khắc, và cũng sẽ hộ trì cho họ không phải rơi ác đạo. Thiện tai!

Hồng Như Thupten Munsel chuyển Việt ngữ 01, 2020 từ bản Tạng ngữ chép từ https://www.lotsawahouse.org/bo/tibetan-masters/thangtong-gyalpo/outer-inner-secret-refuge-thangtong-gyalpo, tham khảo các bản dịch Anh ngữ và Pháp ngữ cùng nơi, và bản Hoa ngữ của đức Karmapa <tại đây> ,

Trở về mục lục

TỤNG CHÚ

༄༅། །ཨོཾ་མ་ཎི་པདྨེ་ཧཱུྃ། །
OM MANI PADME HUM
嗡嘛呢呗美吽
(108x or more / 108x ou plus / 108 hay nhiều hơn, / 一百零八遍)


Trở về mục lục

LỜI NGUYỆN TRỪ BỆNH TIÊU TAI

Tiếng Lời Kim Cang Tịnh Sạch Nỗi Sợ Tật Dịch Truyền Nhiễm Ở Sakya của Đại Thành Tựu Giả Thangtong Gyalpo

Bệnh từ nghiệp cũ / và duyên trước mắt,
Tà ám, ác bệnh, / khổ nạn tứ đại,
Khiến tâm chúng sinh / không còn an lạc,
Nguyện không xuất hiện / trên cõi thế gian.

Như bị đồ tể / lôi vào lò thịt,
Chỉ trong phút giây / hồn lìa khỏi xác,
Hết thảy khổ bệnh / đe dọa mạng sống,
Nguyện không xuất hiện / trên cõi thế gian.

Bệnh dữ cấp tính, / mãn tính, truyền nhiễm,
Đáng sợ đến nỗi / chỉ thoáng nghe tên
Đã như rơi vào / miệng của thần chết,
Nguyện không bao giờ / não hại chúng sinh.

Quỷ mị hại người / tám mươi ngàn loại,
Ba trăm sáu chục / loại quỷ thình lình,
Bốn trăm hai bốn / tật bệnh các thứ,
Nguyện không phương hại / các loài chúng sinh.

Bao khổ vì loạn / đất nước lửa gió,
Làm cho thân tâm / mất hết niềm vui,
Nguyện tịnh yên hết, / sáng tươi khỏe mạnh,
Sống lâu, không bệnh, / thoải mái an vui.

Nương lực từ bi / Thượng sư Tam bảo;
Nương đại dũng lực / không hành, hộ pháp;
Nương lực chân thật / nghiệp quả không sai;
Nguyện lời nguyện này / tức thì thành tựu.

Khi xưa có lần Đại Tu Viện của dòng Sakya Cát Tường gặp nạn dịch truyền nhiễm lan từ người này sang người khác. Chư pháp sĩ cố gắng nhiều cách, lễ tịnh thế thân, thuốc, chú, hộ mạng vân vân, đều không ích lợi gì, tu viện có nguy cơ biến thành chốn không người. Vào lúc ấy, bậc đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo tụng bài pháp quy y bắt đầu với câu, “Hết thảy chúng sinh, mẹ hiền nhiều đời, nhiều như trời rộng,” tụng một số chú Mani. Khi câu cuối “nguyện lời nguyện này tức thì thành tựu” được thốt lên, bệnh truyền nhiễm tức thì chấm dứt. Vì vậy mà lời nguyện này nổi danh là tiếng lời kim cang tỏa rạng mây gia trì, với tên gọi “Lời Nguyện Cứu Sakya Thoát Bệnh Dịch.”

Hồng như chuyển Việt ngữ 01, 2020 từ bản Tạng ngữ https://www.lotsawahouse.org/bo/tibetan-masters/thangtong-gyalpo/prayer-pacifying-fear-illness, tham khảo với bản Anh ngữ cùng nơi.
02.02.2020: Nhuận văn sau khi tham khảo với bản tiếng Hoa của Đại Bảo Pháp Vương Karmapa XVII.

Trở về mục lục

LỜI NGUYỆN TIÊU NẠN ĐÓI

Lời nguyện nổi danh là “Tiếng Lời Kim Cang Tỏa Rạng Mây Cam Lồ Gia Trì, do đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo thỉnh nguyện trước tôn tượng Jowo Rinpoche ở Lhasa

Vì quyết độ thoát / chúng sinh vô biên
Nên Phật phát tâm / vô thượng bồ đề
Và rồi viên thành / hai bồ công đức: / đức Phật từ bi,
Xin thương cho người / không nơi nương dựa / trong thời tối ám
Gặp cảnh khốn cùng / đói khát, khổ đau.

Để chở che cho / chúng sinh nguy khốn
Nguyện cho ngọc báu, / thức ăn, tài sản, / vụ mùa, giường chiếu,
Hết thảy mọi điều / thỏa dạ ước mong,
Rơi như mưa sa / trên cõi Diêm phù / và nơi xứ Tuyết.

Gió, lửa trái thời / mưa, nước bất tường,
Hiểm nạn đến từ / đất nước lửa gió, / nguyện đều tịnh yên,
Nguyện cho lương thực / cỏ cây, vụ mùa… 
Xum xuê tươi tốt / như thời hoàng kim.

Vận dụng sức mạnh / của lòng từ bi,
Đọc lên lời nguyện / lớn rộng như vầy,
Nguyện cho tật bệnh, / vũ khí, nạn đói, / trong thời dữ dội / đều được thanh tịnh,
Sống lâu, không bệnh / thoải mái an vui.


Nương lòng từ bi / của Phật, bồ tát,
Nương lực sự thật / nghiệp quả không sai,
Nguyện cho giáo pháp / của đức Thế tôn / lan xa hưng thịnh,
Nguyện khắp chúng sinh / mau chóng đạt quả / vô thượng bồ đề.

Đây là Lời nguyện mà đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo đã thốt lên trước mặt [Tôn tượng] Jowo Rinpoche ở Lhasa, khi vùng Kham Tây tạng gặp nạn đói lớn. Năng lực của lời nguyện này khiến người dân Tây tạng thoát cảnh đói khát nhờ đức Quan Thế Âm từ trên trời không mưa xuống trận mưa lương thực.

Hồng như chuyển Việt ngữ 01, 2020 từ bản Tạng ngữ https://www.lotsawahouse.org/bo/tibetan-masters/thangtong-gyalpo/prayer-pacifying-famine, tham khảo với bản Anh ngữ cùng nơi.

Trở về mục lục

Lời Nguyện Hòa Bình [Prayer For Peace]

Chân Ngữ Hàng Phục Hiểm Họa Vũ Khí

OM MANI PADME HUM

Đức Thế Tôn Đại Từ (Di Lạc)
Đức Siêu Việt Nhiệm Mầu Mắt Đại Bi (Quan Thế Âm)
Đức Oai Nộ Tôn Thắng Quan Âm Mã Đầu (Hayagriva),
Đức Chánh biến tri Ta-ra thuần tịnh
Hồng danh chư vị vừa thoáng qua tai là tiêu tan hiểm nạn.
Xin chốn chở che hãy từ bi lắng nghe cho lời nguyện chân thành này.

Sống trong thời kỳ / tranh chấp, ngũ trược, 
Biển lớn ác nghiệp / ganh ghen bùng nổ, 
Khiến cho chúng sinh / phải chịu dày vò / cùng cực khốn khổ / vì nạn chiến tranh,
Nguyện cho sức mạnh / trí tuệ, từ bi, / làm cho khô cạn / trọn biển khổ này.

Nguyện xin thác lũ / cam lộ đại từ
Tưới mát chúng sinh / đang cháy bỏng trong / biển lửa oán thù;
Nguyện xin chư vị / hộ niệm giữ gìn, / cho con người biết / quay lại nhìn nhau,
Thấy ai cũng là / cha mẹ nhiều đời / nhờ đó tăng nguồn / cát tường, an lạc.

Nguyện cho đủ loại / tà ma ác hiểm
Thường lẻn vào tâm / khiến tâm biến thành
Loài A-tu-la, / từ nay về sau
Không còn quấy nhiễu / ở nơi chốn này / (hay đất nước này / hay thế giới này). 

Nguyện cả cho người / chết vì chiến tranh
Từ đó bỏ hết / ác nghiệp, nhân quả,
Sau khi vãng sinh / vào cõi cực lạc
Dẫn dắt người khác / cùng về nơi ấy.

Xin hãy gia trì / cho chúng sinh trong / luân hồi sinh tử
Sống lâu, không bệnh / hàng phục tất cả / tranh chấp, xung đột,
Vui mười thiện nghiệp, / mưa thuận gió hòa, / vụ mùa tươi tốt.
Tất cả mọi loài, / ở khắp mọi nơi / thịnh vượng, cát tường.

Nương chân cảnh giới, / tự tánh thanh tịnh;
Nương chân pháp tánh, / nhân quả không sai;
Nương tâm đại bi / của đấng Thượng Sư, / Tâm-Ấn Bổn-Tôn, / và của Tam bảo,
Nguyện cho lời nguyện / lớn rộng sáng trong  / này thành sự thật .

Ghi chú của Lama Zopa

Xưa kia ở xứ Kham bên Tây tạng có xảy ra một trận chiến kéo dài không dứt, không ai đủ sức khôi phục nền hòa bình. Lúc đó có vị đại hành giả Thangtong Gyalpo đến vùng đất Kham, phát tâm bồ đề, rồi đọc tiếng lời chân thật này và rãi hoa, chỉ vậy là đủ cho mọi tâm lý ác hiểm (ganh ghét oán hận) tự nhiên tan biến, nạn chiến tranh chấm dứt, vụ mùa tốt tươi, đất nước cát tường, thái bình an lạc. Lời nguyện này là tiếng lời kim cang mầu nhiệm.

Ðây là một trong ba lời nguyện của đại hành giả mật thừa Thangtong Gyalpo. Hai lời nguyện kia là lời nguyện tiêu đói và tiêu tật dịch.

Đức Chobgye Trichen Rinpoche, là đạo sư của đức Ðalai Lama (đức Đalai Lama thọ pháp Sakya Lam Dre và nhiều pháp quán đảnh bao gồm pháp quán đảnh Dorje Phurba với vị đạo sư này), và cũng là một trong những vị đạo sư chính của đức Sakya Trizin, ngài có lần được chính phủ Nepal mời sang Nepal. Khi đến Nepal, ngài suy xét kỹ lưỡng xem điều gì sẽ mang lợi ích lớn lao đến cho người dân Nepal, và kết luận rằng nên tụng ba lời nguyện của đức Thangtong Gyalpo, và ngài quyết định ban khẩu truyền ba lời nguyện này. Nhờ đó tôi mới được biết tới ba lời nguyện này. Tôi đã nhận khẩu truyền từ đức Chobgye Trichen Rinpoche.
Với công đức có được nhờ dịch lời nguyện này, nguyện bất cứ nơi nào có lời nguyện này (bất kể ở quốc gia nào), và cũng xin nguyện nhờ đọc tụng lời nguyện này, sẽ khiến cho trái tim con người đầy ắp tình thương yêu, tâm bồ đề, mang toàn ý muốn tạo lợi ích cho người, không còn muốn gây hại. Nguyện mặt trời hòa bình hạnh phúc tỏa rạng, nguyện mọi cuộc chiến đang xảy ra lập tức chấm dứt. Nguyện thế giới này hài hòa thái bình, nguyện chiến tranh bạo động sẽ không còn xảy ra.

Xuất Xứ: 

Bản tiếng Anh được đạo sư Lama Zopa Rinpoche với lòng từ tuyệt bậc dịch tại Kachoe Dechen Ling, Aptos, California, USA, vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, là ngày hai tòa Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế ở Nữu Ước và tòa Pentagon ở Hoa Thịnh Ðốn bị tấn công, khiến nhiều người thương vong. Bản Anh ngữ này là bản đã được hiệu đính với sự giúp đỡ của Ven Sarah Tenzin Yiwong.
Đọc bản Anh ngữ: https://fpmt.org/lama-zopa-rinpoche-news-and-advice/advice-from-lama-zopa-rinpoche/prayer-for-peace-2/

Hồng Như Thubten Munsel chuyển Việt ngữ từ bản Anh ngữ của Lama Zopa Rinpoche, tháng 10, 2003, hiệu đính tháng 02, 2008. Nhuận văn 01, 2020. Tìm không ra bản Tạng ngữ.

Trở về mục lục

 

Khẩn Cầu Đức Thangtong Gyalpo

Nam mô Thượng sư

Sắc đen uy nộ, / hàng phục ma lực,
Tự tin chánh kiến, / giữ du già hạnh,
Hóa thân thắng diệu / Orgyen thọ ký: 
Thangtong Gyalpo, / chúng con khẩn nguyện.

Là Đại bi tâm / tịch tĩnh tối thánh
Và Uy Nộ Vương / Quan Âm Mã Đầu (Hayagriva)
Hợp nhất bất nhị: / hóa thân thắng diệu,
Chuyển pháp luân vương / chúng con khẩn nguyện.

Tsongdru Zangpo, được Phật thọ ký,
Tu du già hạnh / khắp miền Tây tạng,
Lừng danh dưới tên / Thangtong Gyalpo / [Vua-Cánh-Đồng-Không]
Orgyen thứ hai / chúng con khẩn nguyện.

Thực hiện chỗ dựa / của thân khẩu ý
Như làm cầu treo, / công đức vô bờ,
Đức tướng rực rỡ / mặt trời nguyên khai:
Là đấng Pháp vương / Đại thành tựu giả / chúng con khẩn nguyện.

Nương lực thỉnh cầu / thiết tha như vậy,
Nguyện cho chúng con / bất cứ ở đâu
Cũng đều tịnh sạch / tật bệnh, tà ám / nghèo khốn, chấp tranh,
Chánh Pháp, cát tường / đều luôn tăng trưởng.

Đáp lời thỉnh nguyện của Sangye Nyentrul Rinpoche đời thứ 8, để thêm chút ít vào tiếng lời kim cang của bậc giác giả quá khứ, tôi, Jamyang Khyentse Wangpo, đã viết bài kệ này. Nguyện thiện đức tăng trưởng.

Hồng như chuyển Việt ngữ 01, 2020 từ bản Tạng ngữ https://www.lotsawahouse.org/bo/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/prayer-to-thangtong-gyalpo, tham khảo với bản Anh ngữ cùng nơi.

Trở về mục lục

<PDF Multilanguage >      <PDF tiếng Việt >

(1385–1464) Tiếng Lời Kim Cang của Đại Thành Tựu Giả Thangtong Gyalpo (1385-1464)
The Vajra Speech of the Mahasiddha Thang Tong Gyälpo
༄༅། །གྲུབ་ཐོབ་ཐང་སྟོང་རྒྱལ་པོའི་རྡོ་རྗེའི་གསུང་ནད་ཀྱི་འཇིགས་པ་ཞི་བའི་གསོལ་འདེབས་ས་སྐྱ་ནད་གྲོལ་མ་ནི།

The Prayer Liberating Sakya from Disease
La Prière Libérant les Sakyas de la Maladie
LỜI NGUYỆN TRỪ BỆNH TIÊU TAI CỨU SAKYA THOÁT DỊCH TRUYỀN NHIỄM
萨迦愈病·大成就者唐东杰波之金刚语·祛病消灾愿文·中文译者 第十七世大宝法王噶玛巴

Quy Y – Taking Refuge – Prendre Refuge《虚空皈依文》

མ་ནམ་མཁའ་དང་མཉམ་པའི་སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་
  MA NAM KHA DANG NYAM PÉ SEM CHEN TAM CHÉ
    All sentient beings, equal to space,
      Tous les êtres, dont le nombre est aussi vaste que l’espace,
        Khắp mẹ chúng sinh / nhiều như trời rộng
          等虚空一切如母有情
བླ་མ་སངས་རྒྱས་རིན་པོ་ཆེ་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །
   LA MA SANGYE RINPOCHE LA KYAB SU CHI O
    Go for refuge to the precious guru-buddha.
      Prennent refuge dans le précieux Maître Bouddha.
        Quy y Thượng sư, là Phật tôn quí
          皈依佛宝上师
སངས་རྒྱས་ཆོས་དང་དགེ་འདུན་རྣམས་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །
  SANGYE CHÖ DANG GEN DÜN NAM LA KYAB SU CHI O
    We go for refuge to the Buddha, the Dharma, and the Sangha.
      Nous prenons refuge dans le Bouddha, le Dharma et la Sangha.
        Quy y Tam bảo, / Phật, Pháp, và Tăng,
          皈依佛法僧三宝众
བླ་མ་ཡི་དམ་མཁའ་འགྲོའི་ཚོགས་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །
  LA MA YI DAM KHAN DRÖ TSOK LA KYAB SU CHI O
    We go for refuge to the assembly of gurus, meditational deities, and dakinis.
      Nous prenons refuge dans l’assemblée des maîtres spirituels,
      des déités de méditation et des dakinis.
        Quy y đạo sư, bổn tôn, không hành
          皈依上师本尊空行众
རང་སེམས་སྟོང་གསལ་ཆོས་ཀྱི་སྐུ་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །
  RANG SEM TONG SAL CHÖ KYI KU LA KYAB SU CHI O
    We go for refuge to the empty clarity of our own minds, the dharmakaya
      Nous prenons refuge dans la clarté vide de notre propre esprit, le dharmakaya.
        Quy y tự tâm, / pháp thân sáng-không
          皈依自心明空之法身
    (as many times as you are able)
      (ou autant de fois que vous pouvez)
        (3, 7 hay 21 lần hay nhiều ít tùy ý)
           (三、七或二十一遍)

༄༅། །ཨོཾ་མ་ཎི་པདྨེ་ཧཱུྃ། །
OM MANI PADME HUM
嗡嘛呢呗美吽
(108x or more / 108x ou plus / 108 hay nhiều hơn, / 一百零八遍)

Nguyện Văn – Main Prayers – La Prière –《愿文》

ལས་དང་གློ་བུར་རྐྱེན་ལས་གྱུར་པ་ཡི། །
  LÉ DANG LO BUR KYEN LÉ GYUR PA YI
    May all the diseases that sadden the minds of sentient beings
      Puissent toutes les maladies qui affligent l’esprit des êtres
        Mọi bệnh từ nghiệp / và duyên trước mắt,
          今缘昔业生起之
གདོན་དང་ནད་དང་འབྱུང་པོའི་འཚེ་བ་སོགས། །
  DÖN DANG NÉ DANG JUNG PÖ TSE WA SOK
    that result from karma and temporary conditions,
      et résultent du karma et des conditions temporaires,
        tà ám, ác bệnh / khổ nạn tứ đại,
          鬼魅部多病扰之
སེམས་ཅན་ཡིད་མི་བདེ་བའི་ནད་རྣམས་ཀུན། །
  SEM CHEN YI MI DE WÉ NÉ NAM KÜN
    such as the harms of spirits, illnesses, and the elements,
      telles que les malfaisances des esprits, les maladies et les éléments,
        Khiến tâm chúng sinh / không còn an lạc
          一切惶惶众生疾
འཇིག་རྟེན་ཁམས་སུ་འབྱུང་བར་མ་གྱུར་ཅིག །
  JIK TEN KHAM SU JUNG WAR MA GYUR CHIK
    not occur in the realms of the world.
      ne plus survenir dans les royaumes du monde,
        Nguyện không xuất hiện / trên cõi thế gian.
          祈愿不复现于世

ཇི་ལྟར་གཤེད་མས་འཁྲིད་པའི་གསད་བྱ་བཞིན། །
  JI TAR SHE MÉ TRI PÉ SE JA SHYIN
    May whatever sufferings there are from life-threatening diseases
      Puissent toutes les souffrances provenant des maladies menaçant la vie qui,
        Như bị đồ tể / lôi vào lò thịt
          如刽子手押死囚
སྐད་ཅིག་གཅིག་ལ་ལུས་སེམས་འབྲལ་བྱེད་པའི། །
  KE CHIK CHIK LA LÜ SEM DRAL JEPÉ
    that, like a butcher leading a being to be slaughtered,
      tout comme le boucher menant un animal à l’abattoir,
        Chỉ trong phút giây / hồn lìa khỏi xác
          一刹那身心异留
སྲོག་འཕྲོག་ནད་ཀྱི་སྡུག་བསྔལ་ཇི་སྙེད་པ། །
  SOK TROK NÉ KYI DUK NGAL JI NYÉ PA
    separate the body from the mind in a mere instant,
      sépare le corps de l’esprit en un seul instant,
        Hết thảy khổ bệnh / đe dọa mạng sống
          数数索命病痛已
འཇིག་རྟེན་ཁམས་སུ་འབྱུང་བར་མ་གྱུར་ཅིག །
  JIK TEN KHAM SU JUNG WAR MA GYUR CHIK
    not occur in the realms of the world.
      ne plus survenir dans les royaumes du monde.
        Nguyện không xuất hiện / trên cõi thế gian.
          祈愿不复现于世。

འཆི་བདག་གཤིན་རྗེའི་ཁ་ནང་ཚུད་པ་ལྟར། །
  CHI DAK SHIN JÉ KHA NANG TSÜ PA TAR
    May all embodied beings be unharmed by acute, chronic, and
      Puissent tous les être incarnés ne plus être touchés
        Bệnh dữ cấp tính, / mãn tính, truyền nhiễm,
          如入阎罗口之境
ནད་ཀྱི་མིང་ཙམ་ཐོས་པས་སྐྲག་བྱེད་པའི། །
  NÉ KYI MING TSAM TÖ PÉ TRAK JE PÉ
    other infectious diseases, the mere sound of whose names
      par les maladies aiguës, chroniques et infectieuses
        Đáng sợ đến nỗi / chỉ thoáng nghe tên
          种种闻名丧胆病
ཉིན་གཅིག་པ་དང་རྟག་པའི་རིམས་སོགས་ཀྱིས། །
  NYIN CHIK PA DANG TAK PÉ RIM SOK KYI
    terrifies beings, as though they had been placed inside the
      dont le nom même suffit à terrifier les êtres
        Đã như rơi vào / miệng của thần chết,
          一日瘟或常热瘟
ལུས་ཅན་ཀུན་ལ་གནོད་པར་མ་གྱུར་གཅིག །
  LÜ CHEN KÜN LA NÖ PAR MA GYUR CHIK
    mouth of Yama, the Lord of Death.
      comme si on les plaçait  dans la bouche de Yama, le Seigneur de la Mort.
        Nguyện không bao giờ / não hại chúng sinh.
          莫要伤害众有情。

གནོད་པའི་བགེགས་རིགས་སྟོང་ཕྲག་བརྒྱད་ཅུ་དང་། །
  NÖ PÉ GEK RIK TONG TRAK GYE CHU DANG
    May all embodied beings be unharmed
      Puissent tous les être incarnés ne plus être affectés
        Quỷ mị hại người / tám mươi ngàn loại;
          八万害人鬼魅灵,          
གློ་བུར་ཡེ་འདྲོགས་སུམ་བརྒྱ་དྲུག་བཅུ་དང་། །
  LO BUR YÉ DROK SUM GYA DRUK CHU DANG
    by the 80,000 classes of harmful interferers,
      par les quatre vingt mille types de facteurs d’obstacles,
        Ba trăm sáu chục / loại quỷ thình lình;
          三百六阴卓鬼冥,
བཞི་བརྒྱ་རྩ་བཞིའི་ནད་ལ་སོགས་པ་ཡིས། །
  SHYI GYA TSA SHYI NÉ LA SOK PA YI
    the 360 evil spirits that harm suddenly,
      par les trois-cent soixante esprits maléfiques qui nuisent soudainement,
        Bốn trăm hai bốn / tật bệnh các thứ
          四百四十等等病,
ལུས་ཅན་ཀུན་ལ་འཚེ་བར་མ་གྱུར་ཅིག །
  LÜ CHEN KÜN LA TSE WAR MA GYUR CHIK
    the 424 diseases, and so forth.
      par les quatre-cent vingt-quatre maladies.
        Nguyện không phương hại / các loài chúng sinh
          莫要伤害众有情。

ལུས་སེམས་བདེ་བ་མ་ལུས་འཕྲོག་བྱེད་པའི། །
  LÜ SEM DE WA MA LÜ TROK JE PÉ
    May whatever sufferings there are due to disturbances of the
      Puissent toutes les souffrances provenant du dérèglement des quatre éléments,
        Bao khổ vì loạn / đất nước lửa gió
          各各令身心不舒,
འབྱུང་བཞི་འཁྲུགས་པའི་སྡུག་བསྔལ་ཇི་སྙེད་པ། །
  JUNG SHYI TRUK PÉ DUK NGAL JI NYÉ PA
    four elements, depriving the body and mind of every pleasure,
      privant le corps et l’esprit de tout plaisir, se pacifier totalement et
        Làm cho thân tâm / mất hết niềm vui
          四大不调诸苦除,
མ་ལུས་ཞི་ཞིང་མདངས་སྟོབས་ལྡན་པ་དང་། །
  MA LÜ SHYI SHYING DANG TOB DEN PA DANG
    be totally pacified, and may the body and mind have
      puissent le corps et l’esprit avoir rayonnement et force,
        Nguyện tịnh yên hết, / sáng tươi khỏe mạnh,
          身强体魄精气盛,
ཚེ་རིང་ནད་མེད་བདེ་སྐྱིད་ལྡན་པར་ཤོག །
  TSE RING NE MÉ DE KYI DEN PAR SHOK
    radiance and power and be endowed with long life, good health, and well-being.
      jouir d’une longue vie, d’une bonne santé et de bien-être.
        Sống lâu, không bệnh, / thoải mái an vui.
          无病长寿享乐福。

བླ་མ་དཀོན་མཆོག་གསུམ་གྱི་ཐུགས་རྗེ་དང། །
  LA MA KÖN CHOK SUM GYI THUK JÉ DANG
    By the compassion of the gurus and the Triple Gem,
      Par la compassion des maîtres et des trois Joyaux,
        Nương lực từ bi / Thượng sư Tam bảo;
          上师三宝大悲力,
མཁའ་འགྲོ་ཆོས་སྐྱོང་སྲུང་མའི་ནུས་མཐུ་དང་།
  KHAN DRO CHÖ KYONG SUNG MÉ NÜ TU DANG
    by the power of the dakinis, Dharma protectors, and guardians, and
      le Pouvoir des dakinis, des gardiens et protecteurs du Dharma et
        Nương đại dũng lực / không hành, hộ pháp;
          空行护法大雄力,
ལས་འབྲས་བསླུ་བ་མེད་པའི་བདེན་སྟོབས་ཀྱིས། །
  LÉ DRÉ LU WA ME PÉ DEN TOB KYI
    by the strength of the infallibility of karma and its results,
      par la force infaillible du karma et de ses résultats,
        Nương lực chân thật / nghiệp quả không sai;
          因果不虚真实力,
བསྔོ་བ་སྨོན་ལམ་བཏབ་ཚད་འགྲུབ་པར་ཤོག །
  NGO WA MÖN LAM TAB TSÉ DRUB PAR SHOK
    may these many dedications and prayers be fulfilled as soon as they are made.   
      puissent toutes ces dédicaces et prières être exaucées dès qu’elles sont formulées.
        Nguyện lời nguyện này / tức thì thành tựu.
          回向祈愿尽成就。
ཅེས་པ་འདི་ནི་གདན་ས་ཆེན་པོ་དཔལ་ལྡན་ས་སྐྱར་ནད་རིམ་མི་གཅིག་པ་སྣ་ཚོགས་བྱུང་བར། སྔགས་བོན་རྣམས་ཀྱིས་མདོས་གཏོར་སྨན་སྔགས་སྲུང་བ་སོགས་གང་བསྒྲུབས་ཀྱང་མ་ཕན་པར་གདན་ས་སྟོངས་ལ་ཐུག་པའི་སྐབས། རྗེ་གྲུབ་ཐོབ་ཆེན་པོས་མ་ནམ་མཁའ་མའི་སྐྱབས་འགྲོ་གྱིས། མ་ཎི་སྒྲོངས། སྨོན་ལམ་འདི་ཐོབ་ཅེས་བཀའ་སྩལ་པ་བཞིན་བགྱིས་པ་ལ་བརྟེན་ནད་ཡམས་ཐམས་ཅད་འཕྲལ་དུ་ཆད་པས་ས་སྐྱ་ནད་གྲོལ་མའི་སྨོན་ལམ་ཞེས་རྡོ་རྗེའི་གསུང་བྱིན་རླབས་ཀྱི་སྤྲིན་ཕུང་འཕྲོ་བར་གྲགས་སོ།། །།
    Once, an epidemic was spreading from one person to the next at the great monastery of the Glorious Sakya tradition. Whatever the mantric masters tried—effigies, tormas, medicines, mantras, protection-amulets, and so on—had no effect, and the monastery was in danger of annihilation. At that time, the master mahāsiddha Thangtong Gyalpo performed the refuge prayer which begins, “Sentient beings in number as vast as space”, then recited a number of Maṇi mantras, and said following the Teachers’ words, “These aspirations become reality…”. At that time, the entire epidemic immediately ceased in dependence upon the performance of this prayer. Thereby, it became renowned as the vajra speech radiating cloud-like blessings entitled ‘The Prayer that Saved Sakya from Disease.’
      [La version française n’est pas disponible]        Khi xưa có lần Đại Tu Viện của dòng Sakya Cát Tường gặp nạn dịch truyền nhiễm. Chư mật sư cố gắng nhiều cách, lễ cúng, thuốc, chú, hộ mạng vân vân, đều không ích lợi gì, tu viện có nguy cơ biến thành chốn không người. Vào lúc ấy, bậc đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo tụng bài pháp quy y bắt đầu với câu, “Khắp mẹ chúng sinh, nhiều như trời rộng,” tụng một số chú Mani. Khi câu cuối “nguyện lời nguyện này tức thì thành tựu” được thốt lên, bệnh truyền nhiễm tức thì chấm dứt. Vì vậy mà lời nguyện này nổi danh là tiếng lời kim cang tỏa rạng mây gia trì, với tên gọi “Lời Nguyện Cứu Sakya Thoát Bệnh Dịch.”
          古刹吉祥萨迦寺曾现瘟疫数种。为此,密咒师与苯教师做堆坛、朵玛、药、咒及符等法为以対治,然皆无成效,险致全寺无人生还。尔时,大成就者呼吁众人念诵《皈依虚空文》、《六字大明咒》及愿文。众人奉行。随即,瘟疫净除。而后,人们便称此愿文——《萨迦愈病》。并因其加持力非凡而闻名遐迩。

བོད་ཡིག།་ གྲུབ་ཐོབ་ཐང་སྟོང་རྒྱལ་པོ། Thangtong Gyalpo (1385-1464)
English:
– Main text: translated and edited by Bhikshu Thubten Tsültrim (George Churinoff)
– Colophon: Translated by Tenzin Jamchen, 2014. Edited and revised for Lotsawa House, 2016.
Français: Lobsang Sonam, 1 Avril 2009
Việt ngữ: Hồng Như Thupten Munsel, tháng 01, 2020
中文译者 第十七世大宝法王噶玛巴  Đại Bảo Pháp Vương Karmapa XVII, January 2020


Trở về mục lục

Xưng Tán Duyên Khởi

Tựa Đề Tạng Ngữ (Tibetan Title): རྟེན་འབྲེལ་བསྟོད་པ་བཞུགས་སོ། །
-Tác giả (author): Lama Tsongkhapa
-Việt ngữ: Hồng Như, bản thảo 12 tháng 5 năm 2019

Việt (Vietnamese) | Tạng (Tibetan) | Tạng-Việt-Anh (Tibetan-Vietnamese-English)

Xưng Tán Duyên Khởi

Lama Tông Khách Ba

Nam mô Guru Manjughoshaya (Kính lạy đức Văn Thù Diệu Âm)

1. Người nào thuyết pháp / từ sự chứng biết,//
trí ấy, giáo ấy / không một ai hơn.//
Con xin kính lễ / đức Phật tối thắng,//
Bậc chứng rồi giảng / giáo pháp duyên sinh.

2. Cõi thế gian này / có bao suy thoái,//
hết thảy đều từ / gốc rễ vô minh.//
Đức Phật dạy rằng / bất kể là ai,//
chứng được duyên sinh / là dẹp được cả.

3. Nên người có trí//
đâu thể không hiểu//
rằng pháp duyên sinh//
chính là cốt tủy / giáo pháp Phật dạy.

4. Vậy xưng tán Phật//
đâu có lối nào//
mầu nhiệm hơn là//
xưng tán bậc thuyết / giáo pháp duyên sinh.

5. “Việc gì đã tùy / nhân duyên sinh ra//
thì việc ấy vốn / không có tự tánh.”//
Có lời dạy nào / tuyệt diệu hơn là//
lời dạy này đây.

6. Vì bám vào đó / mà kẻ ấu trĩ //
ràng buộc biên kiến / càng thêm kiên cố;//
cũng chính nơi đó / lại là cửa ngỏ//
cho người có trí / xẻ lưới niệm khởi.

7. Pháp này nơi khác / chưa từng nghe qua//
nên gọi Phật là / đạo sư duy nhất.//
Nếu gọi ngoại đạo / [là bậc đạo sư] /
thì khác gì gọi / cáo là sư tử,//
chỉ giống như lời / tâng bốc mà thôi.

8. Tuyệt thay đạo sư! Tuyệt thay chỗ nương!//
Tuyệt thay luận sư! Tuyệt thay cứu độ!//
Đối trước bậc Thầy / khéo thuyết duyên khởi,//
con xin đảnh lễ.

9. Để giúp chữa bệnh / nên đấng Lợi Sinh//
dạy cho hữu tình//
lý luận vô song//
xác định tánh không, / trái tim chánh pháp.

10. Lối duyên khởi này//
nếu thấy mâu thuẫn / không thể xác minh//
thì pháp của Phật//
làm sao có thể / thông đạt cho được?

11. Với Phật, bao giờ//
chứng được tánh không / qua nghĩa duyên khởi//
sẽ thấy tuy rằng / không có tự tánh//
vẫn tạo tác dụng, / không hề mâu thuẫn.

12. Phật dạy nếu như / thấy điều ngược lại,//
ở trong tánh không / không có tác dụng//
có tác dụng lại / không có tánh không,//
sẽ phải rơi vào / vực sâu hung hiểm.

13. Vì lý do này / giáo pháp Phật dạy//
hết mực đề cao / chứng ngộ duyên khởi;//
không phải hoàn toàn / là không hiện hữu,//
mà cũng không phải / là có tự tánh.

14. Sự tự-có như / hoa đốm giữa trời,//
vì vậy không gì / là không tùy thuộc.//
Nếu sự vật nhờ / chính mình mà có//
thì không thể nào / tùy thuộc nhân duyên.

15. Nên Phật dạy rằng “vì không có gì//
không từ duyên khởi//
nên trừ phi là / không có tự tánh//
bằng không chẳng có / pháp nào tồn tại.”

16. Phật dạy: “Tự tánh / không hề biến chuyển,//
nên nếu các pháp / có chút tự tánh//
thì quả niết bàn / không thể nào có,//
niệm khởi cũng không / cách nào tịch diệt.”

17. Vì vậy nhiều lần / trước hàng trí giả//
đức Phật nói bằng / tiếng sư tử hống,//
rằng “sự vật vốn / tách lìa tự tánh”//
Lời này đố ai / đủ sức phản biện.

18. Tự tánh mảy may / cũng không hề có,//
mọi sự đều là / “tùy vào cái này//
mà cái kia sinh.” / Có cần phải nói//
rằng hai điều này / không hề mâu thuẫn?

19. “Vì hiện khởi nên//
không vướng biên kiến.”//
Chính vì đức Phật / khéo thuyết như vậy//
nên gọi Ngài là / luận sư vô song.

20. “Hết thảy mọi sự / chân tánh vốn không”;//
“từ điều này mà / quả kia sinh ra”://
hai khẳng định này hỗ trợ lẫn nhau//
không hề mâu thuẫn.

21. Nhiệm mầu nào hơn?//
kỳ diệu nào hơn?//
Tán dương như vậy mới là tán dương,//
bằng không chẳng xứng.

22. Những ai vì bởi / mê muội khống chế//
bất thuận với Phật / thì trước âm thanh//
của không-tự-tánh / chẳng thể nào kham,//
việc này không lạ.

23. Nhưng nếu tin nhận / kho tàng trân quí//
của lời Phật dạy / về thuyết duyên khởi,//
mà không kham nổi / tiếng gầm tánh không//
mới thật lạ kỳ.

24. Lý duyên khởi là / cánh cửa vô thượng,//
lối ngỏ dẫn vào / sự không-tự-tánh.//
Nếu kẻ phàm phu / dựa danh duyên khởi//
mà chấp tự tánh / thì phàm phu ấy//

25. lạc mất lối ngỏ//
mà chư thánh giả đã từng khéo qua.//
Đâu là phương tiện / đưa họ về lại//
với con đường lành / khiến cho Phật vui?//

26. “Tự tánh, không giả, và không tùy thuộc”//
cùng với “duyên sinh, tùy thuộc, giả hợp”,//
Làm sao có thể / qui về một chỗ//
mà không mâu thuẫn?

27. Vì thế điều gì / từ duyên sinh ra,//
mặc dù bản lai / vốn lìa tự tánh,//
nhưng mà tướng hiện / lại giống như có,//
nên Phật nói rằng / mọi sự hư huyễn.

28. Vì lý do này / nên con hiểu được//
dù ai chống đối / với lời Phật dạy//
vẫn không làm sao / xét đúng luận lý//
mà tìm ra được / chút sơ hở nào.

29. Tại sao như vậy? Vì lời giảng này//
khiến cho sự vật—dù là thấy được /
hay không thể thấy—// khả năng khẳng định /
hay là phủ định// đều lìa rất xa.

30. Chính nhờ con đường / duyên khởi này đây,//
thấy được lời Phật / thật không đâu sánh.//
Vì lẽ này mà / khởi niềm xác quyết//
Pháp nào của Phật / cũng đều đúng cả.

31. Phật chứng như nghĩa / rồi khéo nói ra,//
những ai dụng công / theo gót chân Ngài,//
bao nhiêu suy thoái / hết thảy đều xa,//
bao gốc lỗi lầm / đều hồi đầu cả.

32. Còn người quay lưng / với lời Phật dạy//
thì dù lao lực / trong thời gian dài//
lỗi vẫn tăng thêm—như thể gọi mời—//
là vì nương vào / tri kiến chấp ngã.

33. Tuyệt vời lắm thay! Khi người có trí//
hiểu sự khác biệt / giữa hai điều này//
khi ấy đáy lòng / không thể nào không//
sâu xa kính Phật.

34. Hãy khoan nói đến / vô lượng giáo pháp,//
chỉ cần ý nghĩa / một nhánh nhỏ thôi,//
dù chỉ đại khái / có được lòng tin,//
cũng vẫn đạt được / niềm vui thù thắng.

35. Than ôi! con vì / tâm trí mê muội,//
khối thiện đức ấy / qui y đã lâu,//
thế nhưng cho dù / chỉ một mẩu nhỏ//
cũng chưa hề có.

36. Tuy vậy, trước khi / sinh mạng một dòng//
chảy cạn hết vào / miệng của Thần chết,//
tín tâm nơi Phật / con được chút ít,//
thiết nghĩ đó cũng / là điều đại hạnh.

37. Bậc thuyết duyên khởi / trong khắp giảng sư;//
Trí chứng duyên khởi / trong khắp các trí;//
Chỉ có Phật như / đế vương tôn thắng / trong cõi thế gian//
mới khéo biết được, / người khác chẳng thể.

38. Bất kể là Phật / dạy cho pháp gì,//
đều phát xuất từ / giáo lý duyên sinh//
và đều hướng đến / mục tiêu niết bàn//
Phật không hạnh nào / không khiến tịnh an.

39. Ôi! Giáo pháp Phật//
rơi vào tai ai//
đều khiến bình an,//
hỏi ai lại chẳng / thiết tha giữ gìn.

40. Pháp này tận diệt / hết thảy đối địch;//
làm tan biến hết / mâu thuẫn trước sau;//
giúp cho toàn thành / cả hai lợi ích;//
nhờ diệu pháp này / hoan hỉ càng tăng.

41. Chính vì vậy mà//
Phật vô số kiếp / cho rồi lại cho://
khi thì cho thân / lúc lại cho mạng,//
cho cả thân nhân, / thọ dụng tài sản.

42. Thấy được thiện đức / của giáo pháp này,/
con thật như là / con cá mắc câu,//
từ nơi tim Phật / bị cuốn phăng vào.//
Chẳng thể chính tai / nghe lời Phật dạy / thật là bất hạnh.

43. Nỗi thương tâm này / ray rức mãnh liệt,//
níu mãi không buông / tâm trí của con.//
Cũng tựa như là / trái tim người mẹ//
giữ mãi không rời / đứa con thân yêu.

44. Mỗi khi con nhớ / đến lời Phật dạy,//
là ý nghĩ này / lại hiện trong con://
“Bổn sư đứng giữa / vùng hào quang sáng,//
tướng hảo chánh phụ / rực rỡ rạng ngời,

45. đã dùng Phạm Âm / mà thuyết như vậy.”//
Ảnh Phật khi ấy / hiện ra trong con,//
xoa dịu trái tim / rát bỏng mòn mỏi,//
như trăng thanh mát / dịu cõi nóng khô.

46. Đối với giáo pháp / kỳ diệu này đây//
phàm phu kém trí //
thấy rối mịt mờ//
như là cỏ bện.

47. Nhìn thấy cảnh này / con đã lắm lần//
theo bậc trí giả//
cố gắng nỗ lực//
tìm rồi lại tìm / ý thật của Phật.

48. Khi ấy con học//
rất nhiều kinh luận / tông môn trong ngoài,//
tâm triền miên khổ//
vì lưới hoài nghi.

49-51. Cỗ xe vô thượng / mà Phật để lại,//
hai đầu có-không / đều lìa bỏ hết,//
được đức Long-thọ—người Phật thọ ký—
giảng đúng như thật.//
Vườn hoa kun-da / của luận Long thọ//
ngời ánh nguyệt quang / của luận Nguyệt Xứng//
trắng sáng rạng soi / tỏ tường khắp cả,//
trí tuệ vô cấu / một khối tròn đầy,//
du hành vô ngại / giữa trời giáo thuyết,//
xóa tan tăm tối / trái tim chấp thủ,//
ngàn sao tà thuyết / đều phải lu mờ.//
Nhờ ơn đạo sư / thấy được điều này,//
tâm con khi ấy / mới thật bình yên.

52. Trong mọi thiện hạnh / mà Phật đã làm, /
thuyết pháp là nhất.// Pháp thuyết cũng vậy, /
là pháp này đây.//  Vì vậy kẻ trí /
nên từ chỗ này // mà nhớ đến Phật.

53. Theo gót đấng bổn sư / tôi xuất gia thanh tịnh//
tu học lời Phật dạy / không để cho kém cỏi//
Tỷ kheo này cố gắng / tu tập hạnh du già//
để tỏ lòng tôn kính / với bậc Đại Chân Thật.

54. Gặp được giáo pháp này / của bậc Thầy vô thượng//
hết thảy đều nhờ vào / lòng từ của Ân sư//
Vậy công đức nơi đây / tôi nguyện xin hồi hướng//
cho chúng sinh luôn được / bậc chân sư giữ gìn.

55. Pháp của đấng Lợi Sinh / nguyện cùng tận sinh tử//
không bao giờ khuynh động / bởi ngọn gió tà niệm;//
nguyện luôn đầy ắp người / chứng cảnh giới lời Phật//
nhờ đó tâm xác quyết / tin tưởng đấng đạo sư.

56. Nguyện trì pháp Mâu ni,//
sáng soi lý duyên khởi,//
mọi đời kiếp về sau / xả bỏ cả thân mạng//
không bao giờ xao lãng / dù chỉ thoáng chốc thôi.
 
57. “Bậc dẫn đường tối thượng / bỏ công khó vô lượng//
mới đạt được pháp này//
nay dùng cách nào đây / để hoằng dương chánh pháp?”/)
nguyện tôi ngày lẫn đêm / luôn quán xét điều này.

58. Khi nỗ lực như vậy / với đại nguyện trong sáng//
Nguyện Phạm Thiên, Đế Thích, / cùng chư vị hộ thế//
và hộ pháp như là / đức Mahakala//
luôn nâng đỡ cho tôi / không bao giờ lơi nghỉ

Bài pháp tên “Tinh Túy Trí Khéo Thuyết” này do bậc Tỷ kheo Đa văn Losang Dragpa trước tác.
Hồng Như Thupten Munsel chuyển Việt ngữ từ Tạng ngữ (Kopan Monastery Prayer Book), tham khảo với các bản dịch Anh ngữ của Thupten Jinpa Kilty Galvin,  12 tháng 5 năm 2019

Việt (Vietnamese) | Tạng (Tibetan) | Tạng-Việt-Anh (Tibetan-Vietnamese-English

37 Pháp Hành Bồ Tát

-Tựa đề tiếng Tạng (Tibetan Title): ༄༅། །རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་སོ་བདུན་མ་བཞུགས་སོ། །
-Tác Giả (author): Gyalse Thogme Zangpo
-Việt dịch (Vietnamese translation): Cư sĩ Hồng Như Thupten Munsel – 02/2019, hiệu đính 08/2019

1.  CÔNG ĐỨC PHẦN THƯỢNG—KHAI KỆ

1a. Nói tựa đề

Dưới đây là Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát

1b. Tán Dương

1b1. Nói ngắn gọn

Nam mô Đức Quan Tự Tại Lokesvaraye

1b2. Nói chi tiết

Dù thấy vạn pháp / không đi không đến
Cũng vẫn dốc sức / chỉ vì lợi sinh
Thượng sư tôn quí, đức Quan Thế Âm, bậc đại hộ trì
Đệ tử hằng mang / ba cửa kính lễ

1c. Lý do tác luận

Chư Chánh Đẳng Giác, / cội nguồn phúc lạc
Thành Phật là nhờ / chứng đắc diệu Pháp
Chứng đắc là nhờ / biết được pháp hành
Vì vậy cho nên / cần phải giảng về / pháp hành bồ tát

2. CÔNG ĐỨC PHẦN TRUNG—CHÁNH VĂN

2a. Pháp tu sơ khởi (kệ 1-7)

2a1. Thân người ung dung sung mãn khó gặp (kệ 1)

1. Ung dung, sung mãn, / thuyền lớn khó tìm / nay đã có được
Để độ ngã tha / thoát bể sinh tử
Mà cả ngày đêm / đều không xao lãng
Văn tư và tu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2a2. Từ bỏ quê cha (kệ 2)

2. Thân thì luyến chấp / như là nước cuốn
Thù thì sân hận / như lửa cháy bừng
U mê quên hết / điều cần lấy, bỏ
Quê cha đoạn lìa — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2a3. Trú nơi viễn li (kệ 3)

3. Nhờ lánh chỗ ác / nên phiền não cạn
Tâm không tán loạn: / thiện hạnh tự  tăng
Trí giữ sáng trong / tự tin nơi pháp
Trú nơi viễn li — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2a4. Nhớ vô thường (kệ 4)

4. Người thân lâu năm / lần lượt giã biệt
Tiền kiếm vất vả / bỏ lại phía sau
Thân là nhà trọ / tâm thức là khách / sẽ phải rời đi
Đời này xả li — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2a5. Rời bạn xấu (kệ 5)

Có kẻ nếu gần / tam độc sẽ tăng
Văn tư và tu / hết thảy đều giảm
Tâm từ tâm bi / rồi sẽ mất sạch
Rời xa ác hữu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2a6. Nương thiện tri thức (kệ 6)

6. Lại có những người / nếu nương dựa vào / lầm lỗi sẽ dứt
Thiện đức sẽ tăng / như trăng độ rằm
Thiện tri thức ấy / hãy nên trân quí
Hơn cả thân mình — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2a7. Quy Y  (kệ 7)

7. Tự mình còn vướng / tù ngục luân hồi
Chư thiên thế tục / độ được cho ai?
Nếu đã qui y / thì tìm về nương / chốn không hư ngụy:
Qui y Tam bảo — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b. Giải thích về đường tu ba loại căn cơ

2b1. Đường tu sơ căn phải tu như thế nào  (kệ 8)

8. Phật dạy khổ nạn / ác đạo khó kham
Đều là quả báo / của nghiệp bất thiện
Vì vậy cho nên / chẳng thà mất mạng
Việc ác không làm — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b2. Đường tu trung căn phải tu như thế nào (kệ 9)

9. Lạc thú ba cõi / như sương đầu cỏ
Chỉ phút giây thôi / rồi tan biến hết
Quả vị giải thoát / thắng diệu bất biến
Thường luôn tìm cầu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3. Đường tu thượng căn phải tu như thế nào (kệ 10-24)

2b3a. Phát tâm bồ đề (kệ 10)

10. Đa sinh thân mẫu / kể từ vô thủy / luôn rất yêu tôi
Mẹ đều khổ cả / con vui sao đành!
Vì để phổ độ / chúng sinh vô biên
Phát tâm bồ đề — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b. Huân tập và phát huy tâm bồ đề

2b3b1. Tâm bồ đề tục nghĩa (kệ 11-21)
2b3b1a. Nhập định quán hoán chuyển ngã tha (kệ 11)

11. Chịu khổ là vì / tôi muốn tôi vui
Thành Phật là nhờ / tâm muốn lợi người
Vậy thì vui tôi / đổi lấy khổ người
Trọn vẹn hoán chuyển — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b. Xuất định quán chuyển nghịch cảnh thành đường tu (kệ 12-22)
2b3b1b1. Chuyển khổ nạn thành đường tu  (kệ 12-15)
2b3b1b1a. Tổn thất (kệ 12)

12. Dù ai vì tham / mà tài sản tôi
Họ đều tự cướp, / hoặc bảo người cướp,
Đối với người ấy / vẫn mang thân, của / công đức ba thời
Hồi hướng cho họ — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b1b. Khổ (kệ 13)

13. Tôi một chút lỗi / cũng không hề có
Nhưng lại có người / chặt mất đầu tôi
Ác nghiệp người ấy / với tâm từ bi
Tôi sẽ gánh về — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b1c. Khẩu thiệt (kệ 14)

14. Dù có bị ai / mắng chửi  đủ điều
Bêu rếu cùng khắp / tam thiên thế giới
Tôi với người ấy / lại càng từ hòa
Ngợi ca việc thiện — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b1d. Chỉ trích (kệ 15)

15. Dù có bị ai / ngay giữa đám đông
Bươi móc lỗi kín / thóa mạ nặng lời
Vẫn xem người ấy / là thiện tri thức
Thành tâm kính lễ — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b2. Chuyển cảnh khó thành đường tu (kệ 16-17)
2b3b1b2a. Vô ơn (kệ 16)

16. Người tôi dưỡng nuôi / thương như con ruột
Lại đối với tôi / như với kẻ thù
Tôi vẫn như mẹ / khi con lâm bệnh
Lại càng thương yêu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b2b. Nhục mạ (kệ 17)

17. Dù bị người bằng / hay thấp hơn tôi
Ngã mạn lăng nhục / làm khó đủ điều
Vẫn kính người ấy / như kính Tôn sư
Đội ở trên đầu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b3. Chuyển cảnh khốn cùng hay phú quí vào đường tu (kệ 18-19)
2b3b1b3a. Khốn cùng (kệ 18)

18. Dù nghèo xơ xác / bị đời khinh miệt
Dù vướng trọng bệnh, / ám chướng, tà ma
Ác, khổ chúng sinh / vẫn xin nhận hết
Không chút nao lòng — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b3b. Phú quí (kệ 19)

19. Danh tiếng lừng vang / đại chúng đê đầu
Tài sản sánh tày / Đa Văn Thiên Vương
Vẫn thấy sá gì / tiền tài thế lực
Lòng không kiêu ngạo — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b4. Chuyển cảnh khiến sân và tham vào đường tu (kệs 20-21)
2b3b1b4a. Cảnh khiến nổi sân (kệ 20)

20. Sân hận của mình, / giặc này không dẹp
Thì giặc bên ngoài / càng quét càng tăng
Vậy lấy từ bi / dùng làm chiến đội
Tự quét tâm mình — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b1b4b. Cảnh khiến nổi tham (kệ 21)

21. Lạc thú giác quan / tựa như nước muối
Càng uống bao nhiêu / càng khát bấy nhiêu
Cứ hễ vật gì / khiến nổi tham chấp
Lập tức buông ra — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b2. Tâm Bồ Đề Chân Nghĩa (kệ 22-24)
2b3b2a. Cách Nhập Định Quán Tánh Không Như Không Gian (kệ 22)

22. Cảnh hiện hết thảy / đều là tâm ta
Tâm này bản lai / siêu việt khái niệm
Biết vậy nên khi / tiếp tướng đối đãi
Vẫn không tác ý — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b2b. Khi xuất thiền, làm sao ngừng thấy tham và sân là thật (kệ 23-24)
2b3b2b1. Ngừng thấy cảnh khiến nổi tham là có thật (kệ 23)

23. Khi gặp chốn nào / đẹp đẽ đáng yêu
Thấy đó chỉ như / cầu vồng mùa hạ
Rực rỡ hiện ra / nhưng không thật có
Luyến chấp buông bỏ — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

2b3b2b2. Ngừng thấy cảnh khiến nổi sân là có thật (kệ 24)

24. Hết thảy khổ đau / đều giống trong mơ / thấy con mình chết
Lấy vọng làm thật  / nên luôn đuối mệt
Vì vậy cho nên / khi gặp nghịch cảnh
Thấy đều là vọng — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3. CÔNG ĐỨC PHẦN HẠ — KẾT

3a. Dấn thân vào pháp hành bồ tát (kệ 25-37)

3a1. Sáu Ba La Mật (kệ 25-30)

3a1a. Hạnh Thí (kệ 25)

25. Muốn đạt bồ đề / đến thân còn cho
Huống chi ngoại vật. / Vì vậy cho nên
Không mong hồi báo / không cầu thiện quả
Mà làm bố thí — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a1b. Hạnh Giới (kệ 26)

26. Giới đã không thì / tự lợi cũng không
Lại muốn lợi tha / thật quá nực cười
Vậy nên vắng mọi / ham muốn thế tục
Để mà giữ giới — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a1c. Hạnh Nhẫn (kệ 27)

27. Đối với bồ tát / hướng về thiện đức
thì kẻ nhiễu hại / chính là kho báu
Nên với mọi người / lòng không thù hận
Tu theo hạnh nhẫn — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a1d. Hạnh Tấn (kệ 28)

28.Thanh văn Duyên giác / cầu tự lợi thôi
Đã tinh tấn như / lửa cháy ngang mày
Vậy vì chúng sinh / khởi tâm chuyên cần / nơi gốc thiện đức:
Tu hạnh tinh tấn — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a1e. Hạnh Định (kệ 29)

29. Chỉ, nếu phối hợp / triệt để với Quán
Thì phiền não diệt. / Nhờ biết như vậy,
Siêu việt hết thảy / tứ vô sắc giới,
Tu chánh định này — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a1f. Hạnh Tuệ (kệ 30)

30. Tuệ mà không có / thì năm hạnh kia
Không đủ khả năng / thành tựu chánh giác.
Dùng Phương tiện và / tam vô phân biệt,
Để tu hạnh Tuệ — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

3a2. Bốn Điều Khế Kinh Dạy (kệ 31-34)

3a2a. Tự Xét Lỗi Mình Để Bỏ Đi  (kệ 31)

31. Mê vọng của mình / nếu không tự xét,
Nhìn giống như tu / nhưng làm trái Pháp
Cho nên mê vọng / phải luôn tự mình
Xét để mà buông — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a2b. Ngưng Chỉ Trích Bồ Tát  (kệ 32)

32. Vì phiền não nên / bêu lỗi bồ tát
Chính bản thân mình / sẽ bị tổn hao
Vậy thì những ai / đã vào đại thừa,
Mình đừng nói lỗi — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a2c. Chặt Tham Chấp nơi việc nhà của thí chủ (kệ 33)

33. Vì lợi vì danh / mà sanh tranh chấp,
Làm cho hao tổn / cả văn tư tu.
Nên với việc của / thân, hữu, thí chủ,
Buông mọi chấp bám — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a2d. Tự Chế Ngự Lời Thô Ác  (kệ 34)

34. Lời thô ác khiến / tâm người não loạn
Và làm hao tổn / tánh hạnh bồ tát
Vậy với người khác / đừng gây khó chịu
Buông ác ngữ đi — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a3. Cách Dẹp Phiền Não  (kệ 35)

35. Phiền não quen lâu / sẽ khó đối trị,
Vũ khí giao cho / chánh niệm chánh tri
Phiền não như là / tham sân các thứ,
Chớm nhú chặt ngay — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a4. Luyện Chánh Niệm Tỉnh Giác  (kệ 36)

36. Tóm lại, bất cứ / ở đâu, làm gì
Cũng phải tự hỏi / tâm mình ra sao
Luôn đi cùng với / chánh niệm tỉnh giác
Để mà độ sinh — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3a5. Hồi Hướng Cồng Đức về cho Bồ Đề Viên Mãn (kệ 37)

37. Nỗ lực như vậy / được bao công đức
Xin vì quét khổ / cho khắp chúng sinh
Mà dùng trí tuệ / siêu việt tam chấp
Hồi hướng bồ đề  — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

3b. Kết

Từ nơi ý nghĩa / của Kinh, Mật, Luận
Dựa theo viên âm / của chư Giác giả,
Nay xin viết lại / thành ba mươi bảy / pháp hành bồ tát
Cho những ai muốn / tu bồ tát đạo.

Tôi vì trí thấp / hiểu biết không nhiều
Thi kệ không làm / đẹp lòng bậc trí
Thế nhưng nhờ nương / lời bậc Giác giả / cùng với khế kinh
Pháp hành bồ tát / thiết nghĩ không lầm

Tuy vậy, sóng cả / thiện hạnh bồ tát
Thâm sâu khó lường / cho kẻ trí mọn / như là tôi đây.
Lỡ có mâu thuẫn / hay thiếu mạch lạc / vướng lỗi đại loại,
Xin chư  Giác giả / nhẫn nại dùm cho.

Nhờ công đức này / nguyện khắp chúng sinh
Với tâm bồ đề / chân nghĩa, tục nghĩa,
Không vướng hai đầu / sinh tử, niết bàn
Trở thành y như / đức Quan Thế Âm.

Bài pháp này do tỷ kheo Thogme, giáo luận sư, viết tại động đá ở  Ngulchu Rinchen, vì lợi ích của mình và của người.

Ghi chú bản tiếng Việt: Cư sĩ Hồng Như Thubten Munsel chuyển Việt ngữ tháng 2 năm 2019, hiệu đính tháng 8 năm 2019.
Chánh văn dịch từ nguyên bản tiếng Tạng, tham khảo với nhiều bản tiếng Anh trong đó có bản dịch của Alex Berzin, Adam Pearcey, Michele Martin, Ruth Sonam ; đại cương dịch từ tiếng Anh theo văn bản của Kurukulla Centre trich từ Transforming Adversity into Joy and Courage, by Geshe Jampa Tegchok.

Tạng Ngữ

ན་མོ་ལོ་ཀེ་ཤྭ་ར་ཡེ།  ། གང་གིས་ཆོས་ཀུན་འགྲོ་འོང་མེད་གཟིགས་ཀྱང་།  ། འགྲོ་བའི་དོན་ལ་གཅིག་ཏུ་བརྩོན་མཛད་པའི།  ། བླ་མ་མཆོག་དང་སྤྱན་རས་གཟིགས་མགོན་ལ།  ། རྟག་ཏུ་སྒོ་གསུམ་གུས་པས་ཕྱག་འཚལ་ལོ།  ། ཕན་བདེའི་འབྱུང་གནས་རྫོགས་པའི་སངས་རྒྱས་རྣམས།  ། དམ་ཆོས་བསྒྲུབས་ལས་བྱུང་སྟེ་དེ་ཡང་ནི།  ། དེ་ཡི་ལག་ལེན་ཤེས་ལ་རག་ལས་པས།  ། རྒྱལ་སྲས་རྣམས་ཀྱི་ལག་ལེན་བཤད་པར་བྱ།  ། དལ་འབྱོར་གྲུ་ཆེན་རྙེད་དཀའ་ཐོབ་དུས་འདིར།  ། བདག་གཞན་འཁོར་བའི་མཚོ་ལས་བསྒྲལ་བྱའི་ཕྱིར།  ། ཉིན་དང་མཚན་དུ་གཡེལ་བ་མེད་པར་ནི།  ། ཉན་སེམས་སྒོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། གཉེན་གྱི་ཕྱོགས་ལ་འདོད་ཆགས་ཆུ་ལྟར་གཡོ།  ། དགྲ་ཡི་ཕྱོགས་ལ་ཞེ་སྡང་མེ་ལྟར་འབར།  ། བླང་དོར་བརྗེད་པའི་གཏི་མུག་མུན་ནག་ཅན།  ། ཕ་ཡུལ་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཡུལ་ངན་སྤངས་པས་ཉོན་མོངས་རིམ་གྱིས་འགྲིབ།  ། རྣམ་གཡེང་མེད་པས་དགེ་སྦྱོར་ངང་གིས་འཕེལ།  ། རིག་པ་དྭངས་པས་ཆོས་ལ་ངེས་ཤེས་སྐྱེ།  ། དབེན་པ་བསྟེན་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཡུན་རིང་འགྲོགས་པའི་མཛའ་བཤེས་སོ་སོར་འབྲལ། འབད་པས་བསྒྲུབས་པའི་ནོར་རྫས་ཤུལ་དུ་ལུས།  ། ལུས་ཀྱི་མགྲོན་ཁང་རྣམ་ཤེས་མགྲོན་པོས་འབོར།  ། ཚེ་འདི་བློས་བཏང་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། གང་དང་འགྲོགས་ན་དུག་གསུམ་འཕེལ་འགྱུར་ཞིང་།  ། ཐོས་བསམ་སྒོམ་པའི་བྱ་བ་ཉམས་འགྱུར་ལ།  ། བྱམས་དང་སྙིང་རྗེ་མེད་པར་སྒྱུར་བྱེད་པའི།  ། གྲོགས་ངན་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། གང་ཞིག་བསྟེན་ན་ཉེས་པ་ཟད་འགྱུར་ཞིང་།  ། ཡོན་ཏན་ཡར་ངོའི་ཟླ་ལྟར་འཕེལ་འགྱུར་བའི།  ། བཤེས་གཉེན་དམ་པ་རང་གི་ལུས་བས་ཀྱང་།  ། གཅེས་པར་འཛིན་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་ཡང་འཁོར་བའི་བཙོན་རར་བཅིངས་པ་ཡི།  ། འཇིག་རྟེན་ལྷ་ཡིས་སུ་ཞིག་བསྐྱབ་པར་ནུས།  ། དེ་ཕྱིར་གང་ལ་སྐྱབས་ན་མི་བསླུ་བའི།  ། དཀོན་མཆོག་སྐྱབས་འགྲོ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཤིན་ཏུ་བཟོད་དཀའི་ངན་སོང་སྡུག་བསྔལ་རྣམས།  ། སྡིག་པའི་ལས་ཀྱི་འབྲས་བུར་ཐུབ་པས་གསུངས། དེ་ཕྱིར་སྲོག་ལ་བབས་ཀྱང་སྡིག་པའི་ལས།  ། ནམ་ཡང་མི་བྱེད་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  །  །སྲིད་གསུམ་བདེ་བ་རྩྭ་རྩེའི་ཟིལ་པ་བཞིན།  ། ཡུད་ཙམ་ཞིག་གིས་འཇིག་པའི་ཆོས་ཅན་ཡིན།  ། ནམ་ཡང་མི་འགྱུར་ཐར་པའི་གོ་འཕང་མཆོག །དོན་དུ་གཉེར་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཐོག་མེད་དུས་ནས་བདག་ལ་བརྩེ་བ་ཡི།  ། མ་རྣམས་སྡུག་ན་རང་བདེས་ཅི་ཞིག་བྱ།  ། དེ་ཕྱིར་མཐའ་ཡས་སེམས་ཅན་བསྒྲལ་བྱའི་ཕྱིར།  ། བྱང་ཆུབ་སེམས་བསྐྱེད་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། སྡུག་བསྔལ་མ་ལུས་བདག་བདེ་འདོད་ལས་བྱུང་།  ། རྫོགས་པའི་བྱང་ཆུབ་གཞན་ཕན་སེམས་ལས་འཁྲུངས།  ། དེ་ཕྱིར་བདག་བདེ་གཞན་གྱི་སྡུག་བསྔལ་དག །ཡང་དག་བརྗེ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། སུ་དག་འདོད་ཆེན་དབང་གིས་བདག་གི་ནོར།  ། ཐམས་ཅད་འཕྲོག་གམ་འཕྲོག་ཏུ་འཇུག་ན་ཡང་།  ། ལུས་དང་ལོངས་སྤྱོད་དུས་གསུམ་དགེ་བ་རྣམས།  ། དེ་ལ་བསྔོ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། བདག་ལ་ཉེས་པ་ཅུང་ཟད་མེད་བཞིན་དུ། གང་དག་བདག་གི་མགོ་བོ་གཅོད་བྱེད་ནའང་། སྙིང་རྗེའི་དབང་གིས་དེ་ཡི་སྡིག་པ་རྣམས།  ། བདག་ལ་ལེན་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། འགའ་ཞིག་བདག་ལ་མི་སྙན་སྣ་ཚོགས་པ།  ། སྟོང་གསུམ་ཁྱབ་པར་སྒྲོགས་པར་བྱེད་ན་ཡང་།  ། བྱམས་པའི་སེམས་ཀྱིས་སླར་ཡང་དེ་ཉིད་ཀྱི།  ། ཡོན་ཏན་བརྗོད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། འགྲོ་མང་འདུས་པའི་དབུས་སུ་འགའ་ཞིག་གིས།  ། མཚང་ནས་བྲུས་ཤིང་ཚིག་ངན་སྨྲ་ན་ཡང་།  ། དེ་ལ་དགེ་བའི་བཤེས་ཀྱི་འདུ་ཤེས་ཀྱིས།  ། ཡོན་ཏན་བརྗོད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། བདག་གིས་བུ་བཞིན་གཅེས་པར་བསྐྱངས་པའི་མིས།  ། བདག་ལ་དགྲ་བཞིན་ལྟ་བར་བྱེད་ན་ཡང་།  ། ནད་ཀྱི་བཏབ་པའི་བུ་ལ་མ་བཞིན་དུ།  ། ལྷག་པར་བརྩེ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་དང་མཉམ་པའམ་དམན་པའི་སྐྱེ་བོ་ཡིས།  ། ང་རྒྱལ་དབང་གིས་བརྙས་ཐབས་བྱས་ན་ཡང་།  ། བླ་མ་བཞིན་དུ་གུས་པས་བདག་ཉིད་ཀྱི།  ། སྤྱི་བོར་ལེན་པ་རྒྱལ་སྲས་ཡིན།  ། འཚོ་བས་ཕོངས་ཤིང་རྟག་ཏུ་མི་ཡིས་བརྙས།  ། ཚབས་ཆེན་ནད་དང་གདོན་གྱིས་བཏབ་ཀྱང་སླར་།  ། འགྲོ་ཀུན་སྡིག་སྡུག་བདག་ལ་ལེན་བྱེད་ཅིང་།  ། ཞུམ་པ་མེད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། སྙན་པར་གྲགས་ཤིང་འགྲོ་མང་སྤྱི་བོས་བཏུད།  ། རྣམ་ཐོས་བུ་ཡི་ནོར་འདྲ་ཐོབ་གྱུར་ཀྱང་།  ། སྲིད་པའི་དཔལ་འབྱོར་སྙིང་པོ་མེད་གཟིགས་ནས།  ། ཁེངས་པ་མེད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་གི་ཞེ་སྡང་དགྲ་བོ་མ་ཐུལ་ན།  ། ཕྱི་རོལ་དགྲ་བོ་བཏུལ་ཞིང་འཕེལ་བར་འགྱུར་།  ། དེ་ཕྱིར་བྱམས་དང་སྙིང་རྗེའི་དམག་དཔུང་གིས།  ། རང་རྒྱུད་འདུལ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། འདོད་པའི་ཡོན་ཏན་ལན་ཚྭའི་ཆུ་དང་འདྲ།  ། ཇི་ཙམ་སྤྱད་ཅིང་སྲེད་པ་འཕེལ་བར་འགྱུར།  ། གང་ལ་ཞེན་ཆགས་སྐྱེ་བའི་དངོས་པོ་རྣམས།  ། འཕྲལ་ལ་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཇི་ལྟར་སྣང་བ་འདི་དག་རང་གི་སེམས།  ། སེམས་ཉིད་གདོད་ནས་སྤྲོས་པའི་མཐའ་དང་བྲལ།  ། དེ་ཉིད་ཤེས་ནས་གཟུང་འཛིན་མཚན་མ་རྣམས།  ། ཡིད་ལ་མི་བྱེད་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཡིད་དུ་འོང་བའི་ཡུལ་དང་འཕྲད་པ་ན།  ། དབྱར་གྱི་དུས་ཀྱི་འཇའ་ཚོན་ཇི་བཞིན་དུ།  ། མཛེས་པར་སྣང་ཡང་བདེན་པར་མེད་ལྟ་ཞིང་།  ། ཞེན་ཆགས་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། སྡུག་བསྔལ་སྣ་ཚོགས་རྨི་ལམ་བུ་ཤི་ལྟར།  ། འཁྲུལ་སྣང་བདེན་པར་བཟུང་བས་ཨ་ཐང་ཆད།  ། དེ་ཕྱིར་མི་མཐུན་རྐྱེན་དང་འཕྲད་པའི་ཚེ།  ། འཁྲུལ་བར་ལྟ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། བྱང་ཆུབ་འདོད་པས་ལུས་ཀྱང་གཏོང་དགོས་ན།  ། ཕྱི་རོལ་དངོས་པོ་རྣམས་ལ་སྨོས་ཅི་དགོས།  ། དེ་ཕྱིར་ལན་དང་རྣམ་སྨིན་མི་རེ་བའི།  ། སྦྱིན་པ་གཏོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཚུལ་ཁྲིམས་མེད་ན་རང་དོན་མི་འགྲུབ་ན།  ། གཞན་དོན་སྒྲུབ་པར་འདོད་པ་གད་མོའི་གནས།  ། དེ་ཕྱིར་སྲིད་པའི་འདུན་པ་མེད་པ་ཡི།  ། ཚུལ་ཁྲིམས་བསྲུང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། དགེ་བའི་ལོངས་སྤྱོད་འདོད་པའི་རྒྱལ་སྲས་ལ།  ། གནོད་བྱེད་ཐམས་ཅད་རིན་ཆེན་གཏེར་དང་མཚུངས།  ། དེ་ཕྱིར་ཀུན་ལ་ཞེ་འགྲས་མེད་པ་ཡི།  ། བཟོད་པ་སྒོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་དོན་འབའ་ཞིག་སྒྲུབ་པའི་ཉན་རང་ཡང་།  ། མགོ་ལ་མེ་ཤོར་བཟློག་ལྟར་བརྩོན་མཐོང་ན།  ། འགྲོ་ཀུན་དོན་དུ་ཡོན་ཏན་འབྱུང་གནས་ཀྱི།  ། བརྩོན་འགྲུས་རྩོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཞི་གནས་རབ་ཏུ་ལྡན་པའི་ལྷག་མཐོང་གིས།  ། ཉོན་མོངས་རྣམ་པར་འཇོམས་པར་ཤེས་བྱས་ནས།  ། གཟུགས་མེད་བཞི་ལས་ཡང་དག་འདས་པ་ཡི།  ། བསམ་གཏན་སྒོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཤེས་རབ་མེད་ན་ཕ་རོལ་ཕྱིན་ལྔ་ཡིས།  ། རྫོགས་པའི་བྱང་ཆུབ་ཐོབ་པར་མི་ནུས་པས།  ། ཐབས་དང་ལྡན་ཞིང་འཁོར་གསུམ་མི་རྟོག་པའི།  ། ཤེས་རབ་སྒོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་གི་འཁྲུལ་བ་རང་གིས་མ་བརྟགས་ན།  ། ཆོས་པའི་གཟུགས་ཀྱིས་ཆོས་མིན་བྱེད་སྲིད་པས།  ། དེ་ཕྱིར་རྒྱུན་དུ་རང་གི་འཁྲུལ་བ་ལ།  ། བརྟགས་ནས་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཉོན་མོངས་དབང་གིས་རྒྱལ་སྲས་གཞན་དག་གི །ཉེས་པ་གླེང་ན་བདག་ཉིད་ཉམས་འགྱུར་བས།  ། ཐེག་པ་ཆེ་ལ་ཞུགས་པའི་གང་ཟག་གི །ཉེས་པ་མི་སྨྲ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རྙེད་བཀུར་དབང་གིས་ཕན་ཚུན་རྩོད་འགྱུར་ཞིང་།  ། ཐོས་བསམ་བསྒོམ་པའི་བྱ་བ་ཉམས་འགྱུར་བས།  ། མཛའ་བཤེས་ཁྱིམ་དང་སྦྱིན་བདག་ཁྱིམ་རྣམས་ལ།  ། ཆགས་པ་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རྩུབ་མོའི་ཚིག་གིས་གཞན་སེམས་འཁྲུག་འགྱུར་ཞིང་།  ། རྒྱལ་བའི་སྲས་ཀྱི་སྤྱོད་ཚུལ་ཉམས་འགྱུར་བས།  ། དེ་ཕྱིར་གཞན་གྱི་ཡིད་དུ་མི་འོང་བའི།  ། ཚིག་རྩུབ་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཉོན་མོངས་གོམས་ན་གཉེན་པོས་བཟློག་དཀའ་བས།  ། དྲན་ཤེས་སྐྱེས་བུས་གཉེན་པོའི་མཚོན་བཟུང་ནས།  ། ཆགས་སོགས་ཉོན་མོངས་དང་པོ་སྐྱེས་མ་ཐག །འབུར་འཇོམས་བྱེད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  །  །མདོར་ན་གང་དུ་སྤྱོད་ལམ་ཅི་བྱེད་ཀྱང་།  ། རང་གི་སེམས་ཀྱི་གནས་སྐབས་ཅི་འདྲ་ཞེས།  ། རྒྱུན་དུ་དྲན་དང་ཤེས་བཞིན་ལྡན་པ་ཡིས།  ། གཞན་དོན་སྒྲུབ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  །  །དེ་ལྟར་བརྩོན་པས་བསྒྲུབས་པའི་དགེ་བ་རྣམས།  ། མཐའ་ཡས་འགྲོ་བའི་སྡུག་བསྔལ་བསལ་བྱའི་ཕྱིར་།  ། འཁོར་གསུམ་རྣམ་པར་དག་པའི་ཤེས་རབ་ཀྱིས།  ། བྱང་ཆུབ་བསྔོ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ ཡིན།  ། མདོ་རྒྱུད་བསྟན་བཅོས་རྣམས་ལས་གསུངས་པའི་དོན།  ། དམ་པ་རྣམས་ཀྱི་གསུང་གི་རྗེས་འབྲངས་ནས།  ། རྒྱལ་སྲས་རྣམས་ཀྱི་ལག་ལེན་སུམ་ཅུ་བདུན།  ། རྒྱལ་སྲས་ལམ་ལ་སློབ་འདོད་དོན་དུ་བཀོད།  ། བློ་གྲོས་དམན་ཞིང་སྦྱངས་པ་ཆུང་བའི་ཕྱིར།  ། མཁས་པ་དགྱེས་པའི་སྡེབ་སྦྱོར་མ་མཆིས་ཀྱང་།  ། མདོ་དང་དམ་པའི་གསུང་ལ་བརྟེན་པའི་ཕྱིར།  ། རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་འཁྲུལ་མེད་ལེགས་པར་སེམས།  ། འོན་ཀྱང་རྒྱལ་སྲས་སྤྱོད་པ་རླབས་ཆེན་རྣམས།  ། བློ་དམན་བདག་འདྲས་གཏིང་དཔག་དཀའ་བའི་ཕྱིར།  ། འགལ་དང་མ་འབྲེལ་ལ་སོགས་ཉེས་པའི་ཚོགས།  ། དམ་པ་རྣམས་ཀྱིས་བཟོད་པར་མཛད་དུ་གསོལ།  ། དེ་ལས་བྱུང་བའི་དགེ་བས་འགྲོ་བ་ཀུན།  ། དོན་དམ་ཀུན་རྫོབ་བྱང་ཆུབ་སེམས་མཆོག་གིས།  ། སྲིད་དང་ཞི་བའི་མཐའ་ལ་མི་གནས་པའི།  ། སྤྱན་རས་གཟིགས་མགོན་དེ་དང་མཚུངས་པར་ཤོག །ཅེས་པ་འདི་རང་གཞན་ལ་ཕན་པའི་དོན་དུ་ལུང་དང་རིགས་པ་སྨྲ་བའི་བཙུན་པ་ཐོགས་མེད་ཀྱིས་དངུལ་ཆུའི་རིན་ཆེན་ཕུག་ཏུ་སྦྱར་བའོ།།  །

LỜI NGUYỆN LAMRIM

-Tựa Đề Tạng Ngữ (Tibetan Title): ࿓༅༎་ལམ་རིམ་སྨོན་ལམ་བཞུགས་སོ༎
-Tác giả (author): Lama Tsongkhapa (Lama Tông Khách Ba)
(sơ tổ dòng Gelug)
-Việt ngữ (translator): Hồng Như, bản mới 2018
Nghe Tụng (chanting): Lab Kyabgon Rinpoche <Youtube>
༡༽ དེར་ནི་རིང་དུ་འབད་ལས་ཚོགས་གཉིས་ནི ། །
DER NI RING DU BÄ LÄ TSHOG NYI NI
From my two collections, vast as space, that I have amassed
Bấy lâu gắng tu / được nhị lương này
མཁའ་ལྟར་ཡངས་པ་གང་ཞིག་བསགས་པ་དེས ། །
KHA TAR YANG PA GANG ZHIG SAG PA DE
From working with effort at this practice for a great length of time,
Rộng như trời rộng, / xin vì những ai
བློ་མིག་མ་རིག་གིས་ལྡོངས་འགྲོ་བ་ཀུན ། །
LO MIG MA RIG GI DONG DRO WA KÜN
May I become the chief leading buddha for all those
mắt tuệ khuất lấp / bởi màn vô minh
རྣམ་འདྲེན་རྒྱལ་བའི་དབང་པོར་བདག་གྱུར་ཅིག །
NAM DREN GYÄL WÄI WANG POR DAG GYUR CHIG
Whose mind’s wisdom eye is blinded by ignorance.
con nguyện thành Phật / thượng thủ dẫn đường

༢༽ དེར་མ་སོན་པའི་ཚེ་རབས་ཀུན་ཏུ་ཡང་། །
DER MA SÖN PÄI TSHE RAB KÜN TU YANG
Even if I do not reach this state, may I be held
Khi chưa được vậy / nguyện mọi kiếp sau
འཇམ་པའི་དབྱངས་ཀྱིས་བརྩེ་བས་རྗེས་བཟུང་ནས ། །
JAM PÄI YANG KYI TSE WÄ JE ZUNG NÄ
In your loving compassion for all lives, Manjushri,
Được đức Mạn thù / thương yêu gìn giữ,
བསྟན་པའི་རིམ་པ་ཀུན་ཚང་ལམ་གྱི་མཆོག །
TÄN PÄI RIM PA KÜN TSHANG LAM GYI CHOG
May I find the best of complete graded paths of the teachings,
Trọn vẹn thắng pháp / trình tự đạo giác,
རྙེད་ནས་སྒྲུབ་པས་རྒྱལ་རྣམས་མཉེས་བྱེད་ཤོག །
NYE NÄ DRUB PÄ GYÄL NAM NYE JE SHOG
And may I please all the buddhas by my practice.
Nguyện gặp và tu / khiến Phật đẹp lòng

༣༽ རང་གིས་ཇི་བཞིན་རྟོགས་པའི་ལམ་གྱི་གནད ། །
RANG GI JI ZHIN TOG PÄI LAM GYI NÄ
Using skillful means drawn by the strong force of compassion,
Chứng đúng như thật, cốt lõi đường tu
ཤུགས་དྲག་བརྩེ་བས་དྲངས་པའི་ཐབས་མཁས་ཀྱིས ། །
SHUG DRAG TSE WÄ DRANG WÄI THAB KHÄ KYI
May I clear the darkness from the minds of all beings
Lấy lực đại từ / làm thiện phương tiện
འགྲོ་བའི་ཡིད་ཀྱི་མུན་པ་བསལ་བྱས་ནས ། །
DRO WÄI YI KYI MÜN PA SÄL JÄ NÄ
With the points of the path as I have discerned them:
Quét sạch bóng tối / trong tâm hữu tình
རྒྱལ་བའི་བསྟན་པ་ཡུན་རིང་འཛིན་གྱུར་ཅིག །
GYÄL WÄI TÄN PA YÜN RING DZIN GYUR CHIG
May I uphold Buddha’s teachings for a very long time.
Giữ cho Pháp Phật / tồn tại dài lâu.

༤༽ བསྟན་པ་རིན་ཆེན་མཆོག་གིས་མ་ཁྱབ་པའམ།
TÄN PA RIN CHEN CHOG GI MA KHYAB PAM
With my heart going out with great compassion
Thắng Pháp quí giá / phương nào chưa thịnh,
ཁྱབ་ཀྱང་ཉམས་པར་གྱུར་པའི་ཕྱོགས་དེར་ནི ། །
KHYAB KYANG NYAM PAR GYUR WÄI CHOG DER NI
In whatever direction the most precious teachings
Hay là đã thịnh / nhưng rồi đã suy
སྙིང་རྗེ་ཆེན་པོས་ཡིད་རབ་བསྐྱོད་པ་ཡིས ། །
NYING JE CHEN PÖ YI RAB KYÖ PA YI
Have not yet spread, or once spread have declined,
Nguyện lấy đại bi / chấn động lòng người
ཕན་བདེའི་གཏེར་དེ་གསལ་བར་བྱེད་པར་ཤོག །
PHÄN DEI TER DE SÄL WAR JE PAR SHOG
May I reveal this treasure of happiness and aid.
Khai mở rạng ngời / kho tàng phúc lạc

༥༽སྲས་བཅས་རྒྱལ་བའི་རྨད་བྱུང་འཕྲིན་ལས་ལས༎
SÄ CHÄ GYÄL WÄI MÄ JUNG THRIN LÄ LÄ
May the minds of those who wish for liberation be granted bounteous peace
Nương hạnh nhiệm mầu / của Phật, Bồ tát
ལེགས་གྲུབ་བྱང་ཆུབ་ལམ་གྱི་རིམ་པས་ཀྱང་། །
LEG DRUB JANG CHUB LAM GYI RIM PÄ KYANG
And the buddhas’ deeds be nourished for a long time
Cùng với trình tự / đường tu giác ngộ
ཐར་འདོད་རྣམས་ཀྱི་ཡིད་ལ་དཔལ་སྟེར་ཞིང་། །
THAR DÖ NAM KYI YI LA PÄL TER ZHING
By even this graded path to enlightenment completed
Nguyện làm rực rỡ / tâm người cầu thoát,
རྒྱལ་བའི་མཛད་པ་རིང་དུ་སྐྱོང་གྱུར་ཅིག །
GYÄL WÄI DZÄ PA RING DU KYONG GYUR CHIG
Due to the wondrous virtuous conduct of the buddhas and their sons.
Huân dưỡng lâu dài / thiện hạnh Thế tôn.

༦༽ ལམ་བཟང་བསྒྲུབ་པའི་མཐུན་རྐྱེན་སྒྲུབ་བྱེད་ཅིང་༎
LAM ZANG DRUB PÄI THÜN KYEN DRUB JE CHING
May all human and non-human beings who eliminate adversity
Nguyện làm thuận duyên / cho pháp lành này
གལ་རྐྱེན་སེལ་བྱེད་མི་དང་མི་མིན་ཀུན ། །
GÄL KYEN SEL JE MI DANG MI MIN KÜN
And create conducive conditions for practicing the excellent paths
Nghịch duyên quét hết, / cho khắp mọi loài / nhân và phi nhân
ཚེ་རབས་ཀུན་ཏུ་རྒྱལ་བས་བསྔགས་པ་ཡི ། །
TSHE RAB KÜN TU GYÄL WÄ NGAG PA YI
Never be parted in any of their lives
Mọi đời kiếp sau / không bao giờ lìa
རྣམ་དག་ལམ་དང་འབྲལ་བར་མ་གྱུར་ཅིག །
NAM DAG LAM DANG DRÄL WAR MA GYUR CHIG
From the purest path praised by the buddhas.
Đường tu trong sáng / mà Phật tán dương.

༧༽གང་ཚེ་ཐེག་པ་མཆོག་ལ་ཆོས་སྤྱོད་བཅུའི༎
GANG TSHE THEG PA CHOG LA CHÖ CHÖ CHÜI
Whenever someone makes effort to act
Nguyện cho bao giờ / ở nơi thắng thừa
ཚུལ་བཞིན་བསྒྲུབ་ལ་བརྩོན་པ་དེ་ཡི་ཚེ ། །
TSHÜL ZHIN DRUB LA TSÖN PA DE YI TSHE
In accordance with the ten-fold Mahayana virtuous practices
Thuận theo thập thiện / hành trì tinh tấn,
མཐུ་ལྡན་རྣམས་ཀྱིས་རྟག་ཏུ་གྲོགས་བྱེད་ཅིང་། །
THU DÄN NAM KYI TAG TU DROG JE CHING
May he always be assisted by the mighty ones,
Sẽ luôn được chư / Đại lực nâng đỡ,
ཀྲ་ཤིས་རྒྱ་མཚོས་ཕྱོགས་ཀུན་ཁྱབ་གྱུར་ཅིག །
TRA SHI GYA TSÖ CHOG KÜN KHYAB GYUR CHIG
And may oceans of prosperity spread everywhere.
Biển rộng cát tường / tràn khắp mọi nơi.

ཅེས་པ་འདི་ནི་རྗེ་ཙོང་ཁ་པ་བློ་བཟང་གྲགས་པས་མཛད་པའོ། །
Bài pháp này do đức Tsong Khapa trước tác

Chuỗi Ngọc Bồ Tát

-Tựa Đề Tạng Ngữ (Tibetan Title): བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ།
-Tác giả (author): Dipamkaraśrijñana (Je Atisa)
-Việt ngữ: Hồng Như, bản nháp 2019

Chuỗi Ngọc Bồ Tát

Tựa đề tiếng Phạn: Bodhisattvamanevali 
Tựa đề tiếng Tạng: changchub sempé norbü trengwa

Kính lễ Tâm Đại Bi
Kính lễ chư Thượng Sư
Kính lễ chư Tôn của tín tâm

1. Nghi hoặc vướng tâm, buông bỏ hết
Dốc tâm tận lực nơi pháp hành
Chìm, chậm và lười đều triệt bỏ
Phải luôn nỗ lực và tinh tấn

2.  Chánh niệm, tỉnh giác, bất phóng dật
Luôn dùng để giữ cửa giác quan
Ban ngày ba buổi, đêm ba buổi
Luôn xét tới lui dòng tâm thức

3. Lỗi ở nơi mình phải nói lớn
Còn lỗi người khác chớ tìm tòi
Công đức của mình nên giữ kín
Công đức của người phải nói ra

4. Phú quí, vinh quang, đều từ bỏ
Lợi danh mọi lúc đều phải buông
Phải biết thiểu dục và tri túc
Thọ ơn thì phải biết trả ơn

5. Tâm từ tâm bi, phải huân tập
Giữ tâm bồ đề thật vững chắc
Mười điều bất thiện, luôn từ bỏ
Tín tâm luôn giữ thật vững bền

6. Phẫn nộ ngã mạn đều phải diệt
Còn tâm khiêm hạ giữ bên mình
Nghề nghiệp bất thiện phải từ bỏ
Sinh sống bằng nghề thuận chánh pháp

7. Tài vật hết thảy đều buông bỏ
Trang điểm bằng tài sản Thánh nhân [xem chi tiết đoạn 25-26]
Bao nhiêu náo nhiệt buông ra cả
Ở nơi lan nhã mà an trú

8. Chuyện phiếm tào lao buông bỏ hết
Phải luôn tự chủ lời nói ra
Khi gặp đạo sư, thầy truyền giới
Khởi tâm thành kính muốn hầu Thầy

9. Đối với những ai có mắt pháp
Hay với chúng sinh mới nhập môn
Phải biết tất cả là Đạo sư
Khi gặp bất kỳ chúng sinh nào
Biết là cha mẹ, con cháu mình

10. Bạn bè bất thiện buông bỏ hết
Bậc thiện tri thức, phải nương vào
Bỏ tâm giận dữ và không vui
Còn chỗ nào vui, phải đi đến

11. Bất kể tham gì, cũng bỏ hết
Phải về trú ở sự không tham
Tham thì thiện đạo cũng không đạt
Và làm đứt mạng của giải thoát

12. Hễ thấy pháp gì mang vui đến
Cứ luôn ở đó mà dụng công
Đầu tiên bắt đầu như thế nào
Thì hãy cứ thế mà tu trước
Được vậy mọi sự đều sẽ tốt
Bằng không sẽ chẳng việc gì xong

13. Vì không hề vui cùng việc ác
Cho nên hễ khởi niệm tự cao
Thì ngay lúc ấy chặt ngã mạn
và phải nhớ lời dạy của Thầy

14. Bao giờ tâm lý nổi chán chường
Thì phải tán thưởng, nâng tâm lên
Quán về tánh không của cả hai.
Khi gặp cảnh nào khiến tham sân
Thì thấy chỉ như giả, như huyễn

15. Khi nghe phải lời nói khó nghe
Phải thấy chỉ như là tiếng vang
Bao giờ thân thể bị thương tổn
Phải thấy đó là do nghiệp cũ

16. Trú nơi lan nhã miền xa vắng
Giống như xác chết loài thú hoang
Phải tự dấu kín bản thân mình
Và phải trú ở sự không tham

17. Luôn luôn giữ vững thệ nguyện mình.
Khi nào nổi cơn lười giải đãi
Khi ấy hãy tự đếm lỗi mình
Nhớ lại tinh túy của giới luật

18. Khi nào gặp mặt bất kỳ ai
Thì lời nói phải nhẹ và thật
Mặt mày cau có đều bỏ hết
Phải luôn gìn giữ một nụ cười

19. Nói chung mỗi khi gặp người khác
Hãy vui mà cho, đừng bủn xỉn
Đố kị ghét ghen đều từ bỏ

20. Vì để giữ gìn tâm người khác
Nên mọi tranh chấp đều bỏ đi
Giữ tâm kham nhẫn cạnh bên mình

21. Đừng dua nịnh cũng đừng thay đổi
Trước sau như một, đáng tin cậy
Bỏ hết thái độ khinh rẻ người
Ngược lại luôn giữ lòng thành kính

22. Bao giờ cho người lời giáo huấn
Phải bằng tâm từ bi lợi tha
Giáo pháp Phật cho đừng phỉ báng
Pháp nào mà lòng thiết tha muốn
Thì nơi mười cửa pháp hạnh này
Ngày đêm chia ra mà dụng công

23. Ba thời thiện đức được bao nhiêu
Hồi hướng về đại vô thượng giác
Rãi hết công đức cho chúng sinh
Thất chi đại nguyện luôn hiến cúng

24. Làm được như vậy thì hai kho
Tư lương phước trí sẽ viên thành
Và hai chướng ngại sẽ đoạn diệt
Thân người này sẽ đầy ý nghĩa
Quả vô thượng giác sẽ viên thành

25. Tài sản sự tin và giữ giới
Tài sản của sự cho, sự nghe
Tài sản của tâm tàm, tâm quí
Và của trí tuệ, bảy kho tàng.

26. Hết thảy ngọc báu thắng diệu này
Là bảy tài sản không vơi cạn
Ai không phải người, đừng cho biết.


Ở giữa đám đông xét lời nói
Khi ở một mình tự xét tâm

Đến đây chấm dứt bài pháp Chuỗi Ngọc Bồ Tát do Sư trưởng Ấn độ Dipamkaraśrijñana soạn tác



༄༅༎རྒྱ་གར་སྐད་དུ།བོ་དྷི་སཏྭ་མ་ཎྀ་ཨ་བ་ལི།  བོད་སྐད་དུ།བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ།  ཐུགས་རྗེ་ཆེན་པོ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  བླ་མ་རྣམས་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  དད་པའི་ལྷ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  ཐེ་ཚོམ་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞེང་།  བསྒྲུབ་ལ་ནན་ཏན་གཅེས་སུ་བྱ༎  གཉིད་རྨུགས་ལེ་ལོ་རབ་སྤང་ཞིང་།  རྟག་ཏུ་བརྩོན་འགྲུས་འབད་པར་བྱ༎  དྲན་དང་ཤེས་བཞེན་བག་ཡོད་པས༎  དབང་པོའི་སྒོ་རྣམས་རྟག་ཏུ་བསྲུང༌༎  ཉིན་མཚན་དུས་གསུམ་ཡང་དང་ཡང༌༎  སེམས་ཀྱི་རྒྱུད་ལ་བརྟག་པར་བྱ༎  བདག་གི་ཉེས་པ་བསྒྲག་བྱ་ཞིང༌༎  གཞན་གྱི་འཁྲུལ་པ་བཙལ་མི་བྱ༎  བདག་གི་ཡོན་ཏན་སྦ་བྱ་ཞིང༌༎  གཞན་གྱི་ཡོན་ཏན་བསྒྲག་པར་བྱ༎  རྙེད་དང་བཀུར་སྟི་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཁྱེད་གྲགས་རྟག་ཏུ་སྤང་བར་བྱ༎  འདོད་པ་ཆུང་ཞིང་ཆོག་ཤེས་དང་༎  བྱས་ལ་དྲིན་དུ་བཟོ་བར་བྱ༎  བྱམས་དང་སྙིང་རྗེ་བསྒོམ་བྱ་ཞིང༌༎  བྱང་ཆུབ་སེམས་ནི་བརྟན་པར་བྱ༎  མི་དགེ་བཅུ་ནི་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་དད་པ་བརྟན་པར་བྱ༎  ཁྲོ་དང་ང་རྒྱལ་གཞོམ་བྱ་ཞིང༌༎  དམན་པའི་སེམས་དང་ལྡན་པར་བྱ༎  ལོག་པའི་འཚོ་བ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཆོས་ཀྱི་འཚོ་བས་འཚོ་བར་བྱ༎  ཟང་ཟིང་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  འཕགས་པའི་ནོར་གྱིས་བརྒྱན་པར་བྱ༎  འདུ་འཇི་[‘འཛི?]ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  དགོན་པ་ལ་ནི་གནས་པར་བྱ༎  འཁྱལ་བའི་ཚིག་རྣམས་སྤང་བང་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་ངག་ནི་བསྡམ་པར་བྱ༌།  བླ་མ་མཁན་པོ་མཐོང་བའི་ཚེ ༎  གུས་པར་རིམ་གྲོ་བསྐྱེད་པར་བྱ༎  གང་ཟག་ཆོས་ཀྱི་མིག་ཅན་དང་།  ལས་དང་པོ་པའི་སེམས་ཅན་ལ༎  སྟོན་པའི་འདུ་ཤེས་བསྐྱེད་པར་བྱ༎  སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་མཐོང་བའི་ཚེ༎  ཕ་མ་བུ་ཚའི་འདུ་ཤེས་སྐྱེད༎  སྡིག་པའི་གྲོགས་པོ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  དགེ་བའི་བཤེས་གཉེན་བསྟེན་པར་བྱ༎  སྡང་དང་མི་བདེའི་སེམས་སྤངས་ཞིང༌༎  གང་དུ་བདེ་བར་འགྲོ་བར་བྱ༎  གང་ལའང་ཆགས་པ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཆགས་པ་མེད་པར་གནས་པར་བྱ༎  ཆགས་པས་བདེ་འགྲོའང་མི་ཐོབ་ཅིང་།  ཐར་པའི་སྲོག་ཀྱང་གཅོད་པར་བྱེད༎  གང་དུ་བདེ་བའི་ཆོས་མཐོང་བ༎  དེར་ནི་རྟག་ཏུ་འབད་པར་བྱ༎  ཐོག་མར་བརྩམས་པ་གང་ཡིན་པ༎  དང་པོར་དེ་ཉིད་བསྒྲུབ་བྱ་སྟེ༎  དེ་ལྟ་ན་ནི་ཀུན་ལེགས་བྱས༎  གཞན་དུ་གཉིས་ཀ་འགྲུབ་མི་འགྱུར༎  རྟག་ཏུ་སྡིག་དང་དགའ་བྲལ་བས༎  གང་དུ་མཐོ་བའི་སེམས་བྱུང་ཚེ༎  དེ་ཚེ་ང་རྒྱལ་བཅག་བྱ་ཞིང༌༎  བླ་མའི་གདམས་ངག་དྲན་པར་བྱ༎  ཞུམ་པའི་སེམས་ནི་བྱུང་བའི་ཚེ༎  སེམས་ཀྱི་གཟེངས་ནི་བསྟོད་པར་བྱ༎  གཉིས་ཀ་སྟོང་པ་ཉིད་དུ་བསྒོམ༎  གང་དུ་ཆགས་སྡང་ཡུལ་བྱུང་ཚེ༎  སྒྱུ་མ་སྤྲུལ་པ་བཞིན་དུ་ལྟ༎  མི་སྙན་ཚིག་རྣམས་ཐོས་པའི་ཚེ༎  བྲག་ཆ་བཞིན་དུ་བལྟ་བར་བྱ༎  ལུས་ལ་གནོད་པ་བྱུང་བའི་ཚེ༎  སྔོན་གྱི་ལས་སུ་བལྟ་བར་བྱ༎  བས་མཐའ་དགོན་པར་རབ་གནས་ཤིང༌༎  རི་དྭགས་ཤི་བའི་རོ་བཞིན་དུ༎  བདག་གིས་བདག་ཉིད་སྦ་བྱ་ཞིང༌༎  ཆགས་པ་མེད་པར་གནས་པར་བྱ༎  རྟག་ཏུ་ཡི་དམ་བརྟན་བྱ་ཞིང༌༎  ལེ་ལོ་སྙོམས་ལས་སེམས་བྱུང་ཚེ ༎  དེ་ཚེ་བདག་ལ་རྔན་བགྲང་ཞིང༌༎  བརྟུལ་ཞུགས་སྙིང་པོ་དྲན་པར་བྱ༎  གལ་ཏེ་གཞན་དག་མཐོང་བའི་ཚེ༎  ཞི་དེས་གསོང་པོར་སྨྲ་བ་དང་། ༎  ཁྲོ་གཉེར་ངོ་ཟུམ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་འཛུམ་ཞིང་གནས་པར་བྱ༎  རྒྱུན་དུ་གཞན་དག་མཐོང་བའི་ཚེ ༎  སེར་སྣ་མེད་ཅིང་སྦྱིན་ལ་དགའ༎  ཕྲག་དོག་ཐམས་ཅད་སྤང་པར་བྱ༎  གཞན་གྱི་སེམས་ནི་བསྲུང་བའི་ཕྱིར༎  རྩོད་པ་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་བཟོད་དང་ལྡན་པར་བྱ༎  ངོ་དགའ་མེད་ཅིང་གསར་འགྲོགས་མེད༎  རྟག་ཏུ་ཚུགས་ནི་ཐུབ་པར་བྱ༎  གཞན་ལ་བརྙས་པ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  གུས་པའི་ཚུལ་གྱིས་གནས་པར་བྱ༎  གཞན་ལ་གདམས་ངག་བྱེད་པའི་ཚེ༎  སྙིང་རྗེ་ཕན་སེམས་ལྡན་པར་བྱ༎  ཆོས་ལ་བསྐུར་བ་མི་འདེབས་ཤིང་།     གང་མོས་དེ་ལ་འདུན་པ་དང་༎  ཆོས་སྤྱོད་རྣམ་བཅུའི་སྒོ་ནས་ནི༎  ཉིན་མཚན་ཕྱེད་པར་འབད་པར་བྱ༎  དུས་གསུམ་དགེ་བ་ཅི་བསགས་པ༎  བླ་མེད་བྱང་ཆུབ་ཆེན་པོར་སྔོ༎  བསོད་ནམས་སེམས་ཅན་རྣམས་ལ་བདར༌༎  རྟག་ཏུ་ཡན་ལག་བདུན་པ་ཡི༎  སྨོན་ལམ་ཆེན་པོ་གདབ་པར་བྱ༎  དེ་ལྟར་བྱས་ན་བསོད་ནམས་དང་༎  ཡེ་ཤེས་ཚོགས་གཉིས་རྫོགས་པར་འགྱུར༎  སྒྲིབ་པ་གཉིས་ཀྱང་ཟད་འགྱུར་ཏེ༎  མི་ལུས་ཐོབ་པ་དོན་ཡོད་པས༎  བླ་མེད་བྱང་ཆུབ་ཐོབ་པར་འགྱུར༎  དད་པའི་ནོར་དང་ཚུལ་ཁྲིམས་ནོར༎  གཏོང་བའི་ནོར་དང་ཐོས་པའི་ནོར༎  ཁྲེལ་ཡོད་ངོ་ཚ་ཤེས་པའི་ནོར༎  ཤེས་རབ་ཉིད་ཀྱི་ནོར་བདུན་ཏེ༎  ནོར་གྱི་དམ་པ་འདི་དག་ནི༎  མི་ཟད་པ་ཡི་ནོར་བདུན་ཏེ༎  མི་མ་ཡིན་ལ་བརྗོད་མི་བྱ༎  མང་པོའི་ནང་དུ་ངག་ལ་བརྟག༎  གཅིག་བུར་འདུག་ན་སེམས་ལ་བརྟག༎  རྒྱ་གར་གྱི་མཁན་པོ་དཔལ་ལྡན་མར་མེ་མཛད་བཟང་པོ་ཡི་ཤེས་སྙིང་པོས་མཛད་པ༎བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ་རྫོགས་སོ༎

Ba Điểm Tinh Yếu của Đường Tu – Three Principle Aspects of the Path

– English Title: Three Principal Aspects of the Path, English translation by Lama Zopa Rinpoche
Tác Giả (Author):
Lama Tông Khách Ba (sơ tổ dòng Gelug) –
Việt ngữ: Hồng Như – 2017, nhuận văn 2019

Continue reading

Trăm Ngàn Bài Ca 1: Câu Chuyện Thung Lũng Hồng Thạch Ngọc

– Extract from The Hundred Thousand Songs of Milarepa, first story: “The Tale of Red Rock Jewel Valley”
Tác Giả – Author: Milarepa
– Việt ngữ: Hồng Như Việt dịch – Vietnamese only
Điều kiện – Prerequisites: Mọi người đều có thể đọc – Everyone can read

 

Continue reading

Trăm Đấng Bổn Tôn Cõi Đâu Xuất Tịnh Độ – Ganden Lha Gyama (text)

 – English Title: Hundreds Deities of Tushita
– Tibetan:  GANDEN LHA GYA MA
– Ngôn ngữ: Anh – Việt – Tạng Âm
Việt ngữ: Hồng Như
Điều kiện – Prerequisites: Mọi người đều có thể đọc và hành trì – Everyone can read and practice

Continue reading

Nền Tảng Mọi Thiện Đức (text)

 – English Title: The Foundation of All Good Qualities
– Tibetan:  ཡོན་ཏན་གཞིར་གགྱུར་མ།
Tác Giả (Author):
Lama Tông Khách Ba (sơ tổ dòng Gelug)
Việt ngữ: Hồng Như – bản dịch 2011.

Continue reading

Kho Tàng Tâm của Đấng Giác Ngộ (Dza Patrul Rinpoche)

Tác Luận: Dza Patrul Rinpoche
CHÁNH VĂN: Công Phu Kiến, Tu và Hạnh
Còn có tên là: Bài Pháp Đầu, Giữa, Cuối Đều Thiện
Việt dịch: Hồng Như, bản hiệu đính tháng 09/2015.

Continue reading

Trên Đường Tu Bệnh Khổ Gánh Làm Sao (chánh văn)

༈ ནད་ལ་སོགས་པ་ལམ་དུ་འཁྱེར་ཚུལ།
Tác luận: རྒྱལ་སྲས་ཐོགས་མེད་བཟང་པོ། Gyalse Thogme Zangpo (1297-1371)
Việt ngữ: Hồng Như, 2015, nhuận văn 2018.
English version translated by Adam Pearcey, 2007. Edited by Phillippa Sison. Revised 2012.
Traduction française établie sur la base de l’anglais, Comité de traduction française Rigpa, 2013.

Continue reading

Tám Thi Kệ Chuyển Tâm

 – [Eight Verses for Training the Mind] –
Tác Giả (Author): Geshe Langri Thangpa (thế kỷ thứ 12) –
Ngôn ngữ (language): Việt – English –
Việt ngữ: hồng như – bản dịch 2006

Continue reading

Trình Tự Tu Thiền – Quyển Trung (Kamalashila)

EnglishStages of Meditation, by Acharya Kalamashila (not available here) –
Tác giả (Author): Liên Hoa Giới  (Kamalashila) –

Việt ngữ: Hồng Như – 
bản hiệu đính, 06/2008, nhuận văn 07/2009, 06/2015.
Hạ Tải văn bản chánh văn tại www.hongnhu.org/thu-muc/#trinh-tu-tu-thien

Continue reading

Bồ Đề Đạo Đăng Luận (Atisa)

English version: A Lamp for the Path to Enlightenment << Link to Lama Yeshe Wisdom Archives >> –
Tác Giả: Atisha Dipamkara Shri Jnana (982-1054) –
Tựa Đề: Bồ Đề Đạo Đăng Luận (Đèn Soi Đường Giác Ngộ) – 
Việt ngữ:  Hồng Như, ấn bản tháng 07 năm 2005.
Hạ Tải văn bản chánh văn tại www.hongnhu.org/thu-muc/#bo-de-dao-dang-luan

Continue reading

Gọi Thầy Từ Chốn Xa (Jamgon Kongtrul đời thứ 1)

– English Title: A Prayer Calling the Lama from Afar – (Not available on this website) –
Tựa đề tiếng Tạng: ༄༅།།བླ་མ་རྒྱང་འབོད་ཀྱི་གསོལ་འདེབས་མོས་གུས་སྙིང་གི་གཟེར་འདེབས་ཞེས་བྱ་བ་བཞུགས་སོ།། –
Tác luận (Author): Jamgon Kongtrul đời thứ nhất Lodro Thayé –
Việt ngữ: Hồng Như – Bản dịch hiệu đính tháng 7/2015.
Điều kiện hành trì: Pháp phổ thông, mọi người đều có thể đọc tụng.

Continue reading

Chói Rạng Ánh Mặt Trời (Dza Patrul Rinpoche)

 – A commentary on Shantideva’s Bodhisattva Way Of Life, by Patrul Rinpoche
༄༅། །བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་སྤྱོད་པ་ལ་འཇུག་པའི་སྒོམ་རིམ་རབ་གསལ་ཉི་མ་ཞེས་བྱ་བ་བཞུགས་སོ། ། –
Tác Luận: Đức DZA PATRUL RINPOCHE
Việt ngữ
: Hồng Như, bản tháng 9/2013
Hạ Tải PDF:  <<Chói Rạng Ánh Mặt Trời – Sách PDF  >>
Điều kiện hành trì: Pháp phổ thông, mọi người đều có thể đọc và hành trì.

Cẩm nang hành trì: Thọ Bồ Tát Giới – Tu Bồ Tát Hạnh theo Nhập Bồ Đề Hạnh Luận của ngài Tịch Thiên (Shantideva) –
Continue reading

Nhập Bồ Đề Hạnh Luận (Shantideva)

 Entering the Bodhisattva Way Of Life (English translation not available here) –
Bước Vào Đường Đi của Bồ Tát
Tác Luận: Thánh Giả Tịch Thiên [Shantideva] –
Vìệt dịch: hồng như – Bản hiệu đính, 21/03/2014.
Điều kiện hành trì: Pháp phổ thông, ai cũng có thể đọc và hành trì.

Continue reading

image_pdfimage_print